Thống Kê Newsletter
LƯỢT TRUY CẬP:
31641 lượt
TRỰC TUYẾN:
1 khách
SỐ THÁNH SỞ:
418 thánh sở

Tổng quan các địa phương

1. Lịch sử

Tây Ninh là tỉnh biên giới ở miền Đông Nam Bộ, có một thị xã, tám huyện, 95 đơn vị cấp xã gồm 5 phường, 8 thị trấn và 82 xã. Tây Ninh cách TP.HCM 99km, được khai phá từ thế kỷ thứ 17 do lưu dân từ ba tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định vào. Đất Tây Ninh xưa kia người Miên gọi tên là Rơm Dưm Ray, nghĩa là Chuồng Voi. Đến năm 1837, phủ Tây An được thành lập với hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa, sau lập thành tỉnh Tây Ninh do quyết định của Toàn quyền Pháp ngày 05-6-1871 gồm có 3 thị trấn và 2 quận là Quận Thái Bình gồm có 7 tổng 34 xã và Quận Trảng Bàng gồm có 3 tổng với 16 xã. Năm 1942, Quận Thái Bình được đổi tên là quận Châu Thành Tây Ninh, vị trí nằm tại trung tâm tỉnh. Năm 1957, ranh giới Tây Ninh được ấn định lại. Các đơn vị hành chánh gồm có 3 quận trong đó có quận Châu Thành, 8 tổng và 49 xã. Đến năm 1963, Tây Ninh lại được phân ra làm 4 quận trong đó có quận Phú Khương. (Sau 1975, quận Phú Khương được đổi lại là huyện Hòa Thành), 8 tổng và 45 xã. (1) Tòa Thánh Tây Ninh từ lúc mới thành lập (theo sớ văn trình tấu Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế) nằm trong địa phận Tây Ninh tỉnh, Thái Bình quận, Hàm Ninh Tổng, Long Thành thôn. Ngày nay, sát Tòa Thánh Tây Ninh còn có hai Thánh sở Cao Đài còn giữ tên địa phương từ khi mới thành lập Tòa Thánh vào năm 1927 như Thánh Thất Thái Bình Thánh Địa của Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo và Thái Bình Cực Lạc, nghĩa trang chôn hài cốt của các tín đồ Cao Đài Tây Ninh.

2. Địa lý

Tỉnh Tây Ninh có diện tích 4.035km2, phía Tây và Tây Bắc giáp ba tỉnh Svay Rieng, Prey Veng và Kampong Cham của Campuchia với đường biên giới dài 240km. Phía Đông giáp hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước, ranh giới dài 123km. Phía Nam giáp TP.HCM và tỉnh Long An, ranh giới dài 36km. Đường Xuyên Á từ Phnom Penh qua tỉnh Svay Rieng vào cửa khẩu quốc gia Mộc Bài theo quốc lộ 22 về TP.HCM. Cửa khẩu quốc gia Xa Mát nối liền tỉnh Kampong Cham (Campuchia) với quốc lộ 22A cũng về TP.HCM. Tây Ninh là vị trí cầu nối TP.HCM và thủ đô Phnom Penh (người Cao Đài quen gọi là Kim Biên, tức “biên giới vàng”).

Tây Ninh là nơi tiếp giáp vùng núi cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền đất cao của Nam Bộ, phần lớn là đất đỏ và đất xám, rất tốt cho việc trồng trọt, nhất là trồng rừng và trồng cây nông nghiệp.

Phía Bắc tỉnh, từ thị xã Tây Ninh trở lên, nhiều rừng núi, trong đó có núi Bà Đen, một ngọn núi cao nhất ở Nam bộ. Phía Nam, đất khá bằng phẳng, gần như đồng bằng, có hai sông lớn chảy qua là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn.

Tây Ninh có nhiều suối, kênh rạch tạo ra một mạng lưới thủy văn rộng lớn. Toàn tỉnh có 3500 ha đầm lầy nằm rải rác ở các vùng trủng ven sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn.

Sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông chảy song song theo hướng Bắc Nam. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ một đồi cao 200 mét ở huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước), làm ranh giới giữa tỉnh Tây Ninh với hai tỉnh Bình Phước và Bình Dương. Phần thượng lưu được đào và chặn lại, tạo nên hồ Dầu Tiếng. Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ độ cao 150 mét ở Kampong Cham (Campuchia), dài 220km mà phần ở Tây Ninh dài 150km. Giang Tân hay Thánh Giang, hoặc Cẩm Giang là đoạn sông Vàm Cỏ Đông chảy liền kề trước khi đến Cẩm Giang. Vào thượng tuần tháng Giêng năm Ất Mùi (1955), nhân lễ khánh thành Đền Thánh, Giang Tân đã được rải tro hỏa táng nhục thể của chư liệt thánh tông đồ: Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Đức Cao Thượng Phẩm, Đức Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, Đức Chưởng Pháp Ngọc Trang Thanh. (Phần xá lợi chư liệt Thánh được thờ dưới hầm Bát Quái Đài Tòa Thánh).

Tây Ninh nổi bật có núi Bà Đen (1) hay núi Điện Bà, vì trên núi có điện thờ Đức Linh Sơn Thánh Mẫu rất linh hiển. Núi này cao 986 mét, cách thị xã Tây Ninh 11km, có hình con linh quy đầu hướng về phía Tây, đang bò trên thế đất khá bằng phẳng (nếu đứng từ Tòa Thánh nhìn lên hướng Bắc). Ngày nay nơi đây là khu du lịch và được khách thập phương đến viếng rất đông đảo trong các ngày lễ hội xuân từ ngày Rằm đến 18 tháng Giêng âm lịch và lễ hội Vía Bà vào hai ngày mùng 5 và 6 tháng 5 âm lịch hàng năm.

Hồ Dầu Tiếng nằm cạnh núi Bà Đen, có dung tích 1,58 tỷ m3 nước trên diện tích mặt nước rộng 27.000 ha và 45.600 ha đất bán ngập nước. Đây là một trong những hồ nước nhân tạo lớn nhất của Việt Nam và của Đông Nam Á. Lưu vực chủ yếu nằm trên địa phận huyện Dương Minh Châu và và phần nhỏ tại huyện Tân Châu cách thị xã Tây Ninh 25km về phía đông. Hồ được khởi công xây dựng ngày 29 tháng 4 năm 1981, hoàn thành ngày 10 tháng 01 năm 1985. Công trình nầy hầu như huy động gần hết nhân dân ở độ tuổi thanh niên ở tỉnh Tây Ninh tham gia đào hồ. Với một đập xả lũ chánh ra đầu nguồn sông Sài Gòn và hai đập phụ xả ra hai kênh Chính Đông và Chính Tây. Kênh Chính Đông dài 45km, dẫn nước về đến Củ Chi, TP. HCM, có kênh phụ cấp I dài 210km. Kênh Chính Tây dài 39km dẫn nước về phía Tây với kênh phụ cấp I dài 145km. Cả hai dẫn đến 1.053 tuyến kênh cấp II và cấp III có tổng chiều dài 1.000km tưới tiêu 83.000 ha ruộng rẫy và cung cấp nước sinh hoạt cho dân chúng quanh vùng. làm phát triển một vùng nông nghiệp rộng lớn từ Tây Ninh đến TP. Hồ Chí Minh.

Thế núi cao, hồ nước rộng, tương phản, tạo cho Tây Ninh có một phần đất sơn thủy hòa quyện, ẩn chứa tính huyền vi.

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh

Tại làng Long Thành, quận Phú Khương xưa, nay là thị trấn Hòa Thành, nổi bật nhứt là Tòa Thánh hay Đền Thánh Cao Đài với dáng vẻ uy nghi có hình con long mã quỳ, tọa lạc trong khuôn viên 96 mẫu tây có tường rào bao bọc bốn phía, trên vùng đất mà Đức Lý Giáo Tông gọi là “Lục long phò ấn”, vì theo lời dạy của Ngài, sâu hơn ba trăm thước, giữa trung tâm đất giáp lại trúng giữa sáu nguồn nước như sáu rồng đoanh nhau.

Trong nội ô Tòa Thánh đường sá mở rộng 40 mét hay 60 mét, chạy thẳng tắp, hợp thành chữ Càn ☰ và chữ Vương 王. Nhìn từ trên xuống, tổng hợp ngoại hình của Đền Thánh với Đông Lang, Tây Lang hợp thành chữ Sơn 山. Ngoài Đền Thánh, có Đền thờ Phật Mẫu (tạm đặt tại Báo Ân Từ), có các dinh thự nội thuộc như Tòa Nội Chánh, Giáo Tông Đường, Nhà Khách, Hộ Pháp Đường, Văn Phòng Hiệp Thiên Đài, Nam Đầu Sư Đường, Nữ Đầu Sư Đường, được kiến thiết theo kiểu đạo đồ, cùng các cơ quan ban bộ như Nhà Hội Vạn Linh, Y Viện Phước Thiện, Cơ Quan Phước Thiện, Ban Nhà Thuyền, Khách Đình, Sở Công Nghệ, Trai Đường, v.v.

Vào thập niên 1950, nhân sanh trong vùng thánh địa không quá 1.000 nóc gia, số người theo đạo Cao Đài chiếm hầu hết. Tuy bấy giờ dân số ít oi, phương tiện đi lại không có nhưng các tiền bối Cao Đài đã thiết kế đường sá thật rộng lớn.

Ngoại ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh

Xa xa quanh Tòa Thánh, có nhiều nguồn suối từ sáu long mạch hợp sức tưới quanh vùng thánh địa ở khắp các hướng như suối giếng mạch Mít Một ở Tây Nam, suối Vườn Điều, Lâm Vồ ở phía Bắc, suối Đá phía Đông Bắc; suối Cái, suối Con Lươn phía Đông, và còn nhiều suối khác như suối Trà Phi, suối Chà Là, v.v

Ở ngoại ô, cách Đền Thánh về hướng Đông 3km theo đường chim bay, từ ngã tư đường Cao Thượng Phẩm và đường Thiên Can Lộ chạy xuống Quy Thiện là vùng Địa Linh Động. Nơi đây có các dinh thự của trường Quy Thiện do ông Giáo Thiện Đinh Công Trứ lập ngày 26-9 Quý Mùi (1943) như:

- Trí Giác Cung, là nhà tịnh của các Thời Quân. Ngài Thời Quân Khai Pháp đã nhập tịnh vào tháng 11 năm Nhâm Thìn (1952).

- Đền thờ Phật Mẫu, nơi đầu tiên thờ Đức Phật Mẫu tại vùng Tòa Thánh.

- Hộ Pháp Tịnh Đường.

- Các cơ sở Tứ Dân, là nơi tu chơn cho cả tín đồ nam lẫn nữ (nay là Nhà Dưỡng Lão).

Đi tiếp về hướng Đông theo lộ Thiên Can, cách Tòa Thánh khoảng 5km là khu Thiên Hỷ Động – Trí Huệ Cung có tòa nhà chánh hình vuông cao 12 mét gồm có tầng ngầm sâu dưới mặt đất 4 mét, được trấn pháp ngày Rằm tháng Chạp Canh Dần (1950). Nơi đây dùng làm nhà tịnh phái nữ. Đức Hộ Pháp đã đại tịnh trong ba tháng tại đây từ ngày 16 tháng Giêng năm Tân Mão (1951), vì lúc nầy Vạn Pháp Cung chưa xây.

Về hướng Tây Đền Thánh (ấp Hiệp Hòa, xã Hiệp Tân) là khu xây bửu tháp của các vị Thời Quân như Bảo Thế Lê Thiện Phước, Bảo Đạo Ca Minh Chương, Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng. Gần khu bửu tháp có hai di tích thánh sở khác:

- Cực Lạc Cảnh (xã Hiệp Tân), là nơi lưu niệm các cốt tượng thờ ở chùa Gò Kén (Thiền Lâm Tự) nhân khi làm lễ Khai Minh Đại Đạo và các cốt tượng Phật, Tiên khác. Các cảnh dự định sẽ xây dựng tiếp theo từ khi thành lập như Quan Âm Các, Phổ Đà Sơn, Long Nữ Điện, Cực Lạc Quốc, Bồ Đề Ốc, Bá Huê Viên, v.v., nhưng chưa thực hiện được.

- Phía sau thánh thất thị xã hiện nay (112 đường 30 Tháng 4, phường 2), có Thảo Xá Hiền Cung, nhà lưu niệm Đức Cao Thượng Phẩm trong đó có di tích cái bàn tròn ba chân để xây bàn lúc khởi thủy “cầu cơ” và mộ phần thân phụ của Ngài là Cao Quỳnh Tuân và gia đình họ Cao.

Về hướng Bắc, ngày 28 tháng 10 Giáp Ngọ (23-11-1954), Đức Hộ Pháp lên núi Bà Đen chỉ chỗ xây nền Vạn Pháp Cung tại chân đá Ông Văn, và cho hiệu là Linh Sơn Động – Vạn Pháp Cung, để làm tịnh thất cho phái nam.

3. Dân số và Thánh sở Cao Đài ở Tây Ninh.

Trước 1975, Châu Thành Thánh Địa rộng 20.383 ha. Châu Thành Hạ lấy Tòa Thánh làm trung tâm và Châu Thành Thượng lấy núi Bà Đen làm trung tâm. Đến năm 1975, Châu Thành Thánh Địa đã lập xong 20 văn phòng Phận đạo với tên gọi từ Đệ Nhứt đến Đệ Nhị Thập. Đầu Phận Đạo phẩm lễ sanh, cai quản một Phận đạo. Mỗi Phận đạo có mười Hương đạo. Mỗi Hương đạo có 3 Ấp đạo. Mỗi Ấp đạo có 3 Liên gia. Mỗi Liên gia có 12 nóc gia. Các Phận đạo không có xây hai lầu Hiệp Thiên Đài. Cai quản hai mươi Phận Đạo có Khâm Thành Thánh Địa.

Sau khi có đạo lịnh ngày 01-3-1979 giải thể toàn bộ các cơ cấu tổ chức chánh trị đạo, các văn phòng Phận đạo đổi thành Cai Quản thánh thất với tên gọi theo tên ấp hoặc xã. Ngày nay có nhiều Phận đạo đã xây Hiệp Thiên Đài. Văn phòng Phước Thiện của Phận đạo trở thành Điện Thờ Phật Mẫu.

Theo kết quả điều tra dân số tỉnh Tây Ninh ngày 01-4-1999, toàn tỉnh có 965.240 người, Số tín đồ Cao Đài có 388.640 người, chiếm tỷ lệ 40,26% dân số, bằng 75,28% số tín đồ của sáu tôn giáo Cao Đài, Phật, Thiên Chúa, Hồi, Tin Lành, Hòa Hảo cộng lại là 516.216 tín đồ. Theo số liệu năm 2002, trên cả nước, Cao Đài Tây Ninh có 2.276.598 tín đồ. Vào năm 2009, dân số Tây Ninh có 1.066.402 người gồm 26 dân tộc, trong đó người kinh chiếm 98%.

Ngày nay, ở thị xã và huyện Hòa Thành, mỗi xã đều có ít nhứt một hoặc hai thánh thất kèm theo một Điện Thờ Phật Mẫu. Cả tỉnh Tây Ninh có 172 thánh sở Cao Đài. Nội ô Tòa Thánh có hơn 40 thánh sở, ở ngoại ô có 126 thánh sở Cao Đài Tây Ninh, 02 thánh sở Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, 05 thánh sở Cao Đài Ban Chỉnh Đạo.

4. Đạo Cao Đài ở Tây Ninh

THỜI KỲ TỪ 1925 – 1934 ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG LÊ VĂN TRUNG CẦM QUYỀN NỀN ĐẠO

Thuở đầu tiên, vào chiều tối thứ bảy ngày 25-7-1925 (mùng 5-6 Ất Sửu) tại nhà Ông Cao Hoài Sang ở Phố Hàng Dừa, nay là đường Cống Quỳnh Quận 1 TP Hồ Chí Minh, Ông Phạm Công Tắc (1890-1959), Ông Cao Quỳnh Cư (1888-1929), và Ông Cao Hoài Sang (1901-1971) đồng sắm sửa nghi lễ lần đầu tiên “xây bàn “mời vong linh quá vãng để cầu hỏi về vận mạng tương lai của Tổ quốc hoặc xướng họa thi vịnh tiêu khiển. Ngày hôm sau 26-7-1925 (6-6-Ất Sửu), giờ Tý, ba vị lại tiếp tục xây bàn và gặp được chơn linh Ngài Cao Quỳnh Tuân [Xuất Bộ Tinh Quân 1844 – (04-11 Bính Thân) 1896], thân phụ của Ngài Cao Quỳnh Cư. Đêm 30-7-1925 (10-6-Ất Sửu) ba vị tiếp tục xây bàn và gặp chơn linh cô Vương Thị Lễ (1900 – 1918) (Thất Nương) xưng danh là Đoàn Ngọc Quế giáng điển cho bài đường thi và hai bài thất ngôn tứ tuyệt làm rung động ba vị xúc cảm họa vận.

Ngày 31-7-1925, ngài Cao Quỳnh Cư mời nhị vị Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang đến nhà mình ở số 134 đường Bourdais, nay là Calmette, Quận 1, cùng xây bàn, gặp chơn linh cô Đoàn Ngọc Quế (tá danh Vương Thị Lễ) dùng thi phú kết thân. Ngày mồng 4 tháng 7 Ất Sửu (22-8-1925), Cô Đoàn Ngọc Quế giới thiệu với ba vị chơn linh Cô Hớn Liên Bạch, giáng tặng một bài đường thi đặc sắc và bài Hoài Lang.

Vào đêm thứ sáu 10-7 Ất Sửu (28-8-1925), tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư, ba vị tiếp được Đức AĂÂ (tá danh của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế) giáng cho bài thơ “Ớt cay cay ớt gẫm mà cay…..

Đêm mồng 8 tháng 8 Ất Sửu (25-9-1925), Đức AĂÂ dạy ba vị chuẩn bị thiết một lễ chay để cầu thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng lâm. Ngày mồng 9-8 Ất Sửu, Cô Đoàn Ngọc Quế (Vương Thị Lễ) cho biết Cô chính là Thất Nương và Chị Hớn Liên Bạch là Bát Nương, cùng trong Cửu Vị Tiên Nương sẽ hộ giá Đức Diêu Trì Kim Mẫu vào đêm Trung Thu.

Sau ba ngày trai giới, đêm 14 rạng Rằm tháng Tám Ất Sửu (2-10-1925), ba vị thiết lễ Hội Yến với Chư Thiên tại tư gia Ngài Cao Quỳnh Cư 134 Bourdais. Đến giờ Tý ngày Rằm, ba vị đồng hiến lễ theo lời hướng dẫn của Thất Nương và được Chư Tiên Nương cho biết “Từ đây có ngọc cơ rồi thì tiện cho Diêu Trì Cung đến dạy đạo.”

Đêm 27-10 Ất Sửu (12-12-1925) Đức Cửu Thiên Huyền Nữ giáng đàn ban lệnh: “Mồng 1 nầy tam vị đạo hữu Vọng Thiên Cầu Đạo”.

Đêm 30-10 Ất Sửu (15-12-1925) Đức AĂÂ dạy “Ngày mồmg 1 tháng 11 nầy, tam vị phải Vọng Thiên Cầu Đạo. Tắm gội cho tinh khiết, ra quỳ giữa trời, cầm 9 cây nhang mà vái rằng: Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vọng bái Cao Đài Thượng Đế ban ơn đủ phúc lành cho ba tôi cải tà quy chánh”.

Đêm 01-11 Ất Sửu (16-12-1925), Đức Cao Đài Thượng Đế giáng cho bài thơ tứ tuyệt chữ Hán, quý Ngài cầu Đức AĂÂ và được cho tiếp bài thi “Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng, Tự nhiên tu tánh đặng bình an...” Đến đêm 9-11 Ất Sửu (24-12-1925), Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương cho bài thi: “Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền, Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên… Đêm nay phải vui mừng vì là ngày Thượng Đế xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây.” Tam vị có lời bạch, cầu xin được biết Đức AĂÂ là ai. Thầy dạy: “Bấy lâu Thầy vẫn tá danh AĂÂ là cốt dìu dắt các con vào đường đạo đức…” Tiếp theo, Đức Lý Thái Bạch giáng mừng, lưu niệm một bài thơ: “Đường trào hạ thế hưởng tam quan…”

Đêm cuối năm dương lịch 31-12-1925 (16-11 Ất Sửu) Đức Cao Đài giảng dạy:“Con thấy đặng sư hạ mình của AĂÂ thế nào chưa… AĂÂ là Thầy”.

 Ngày 02-01-1926, Đức Cao Đài lâm đàn dạy nhị vị Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc về ý thức trọng trách sắp được giao phó: “Thầy dặn hai con một điều… Thầy khởi sự dạy đạo cho.”

 Ngày 03-01-1926, Thầy dạy bổ sung về thủ cơ chấp bút. Ngày 04-01-1926, Thầy dạy về việc tụng kinh. Tiếp theo sau đó Thầy dạy thờ Thiên Nhãn tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư. Ngày 11-01-1926, Ngài Lê Văn Trung tìm đến hầu đàn tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư sau khi đàn Chợ Lớn bế cơ.

 Đêm 22-01-1926, tại nhà ông Đoàn Văn Bản, Đức Cao Đài dạy quý Ông Kỳ, Trung, Bản, Cư, Tắc: “…Thầy muốn cho các con thương yêu nhau, sum hiệp với nhau. Nghe và tuân theo. Thầy sẽ nói lại với Chiêu, song con phải tùng nó”. Sau đó, nhóm của quý Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đến tìm gặp nhóm của Ngài Ngô Minh Chiêu (1878-1932) xác định hình thức Thánh Tượng Thiên Nhãn.

Đêm giao thừa Ất Sửu qua Bính Dần (12-02-1926), Đức Chí Tôn phối hợp hai nhóm làm một bộ phận thông công chung, lần lượt đến từng tư gia 11 vị của hai nhóm, thiết đàn cơ, được Đức Cao Đài ban ân mỗi vị một bài tứ tuyệt. Cuối cùng bộ phận thông công và hai nhóm trở về tụ hội tại nhà Ngài Lê Văn Trung lập đàn đón giao thừa. Đức Cao Đài dạy “Chiêu… thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó. Trung, Kỳ, Hoài, phải lo thay mặt Chiêu mà đi độ người… Bản, Sang, Giảng, Quý, lo dọn mình đặng truyền bá chúng sanh. Đắc giúp đỡ Trung. Đức… Hậu, sau theo mấy anh con đặng độ người…”

Ngày 27-01-1926 (14-12 Ất Sửu), lễ khai đàn thượng Tượng được tổ chức tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư, ngày 31-01-1926 (18-12 Ất Sửu) tại nhà Ngài Vương Quang Kỳ và Ngài Lê Văn Trung.

Ngày mồng 9 tháng Giêng Bính Dần, bộ phận thông công lập tại nhà Ngài Vương Quang Kỳ đồng thiết lễ vía Trời. Đức Cao Đài giáng dạy: “Bửu Tòa thơ thới trổ thêm hoa…”

Ngày 13-01 Bính Dần (25-02-1926), tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư, Đức Cao Đài dạy ý nghĩa và cách bái lạy chắp tay bắt ấn Tý cùng cách may bộ thiên phục.

Ngày rằm tháng Giêng Bính Dần (27-02-1926), tại dinh quận Cần Giuộc, Ngài Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc độ Ngài Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951). Đức Cao Đài dạy: “Tương, từ đây con trấn nhậm nơi nào thì là hồng phúc của nơi ấy nghe con…”

Ngày 04-3-1926, Ngài Nguyễn Ngọc Tương cùng nhiều vị tiền khai đến Vĩnh Nguyên Tự xin phép lập đàn. Ngài Lê Văn Lịch (1890-1947) và Ngài Trần Văn Thụ (1857-2927) vâng lời dạy của Thái Lão Sư Lê Đạo Long đắc quả vị Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn giáng đàn, chuyển qua tu theo đạo Cao Đài.

Ngày Rằm tháng 3 Bính Dần, Ngài Lê Văn Lịch thọ Thiên Phong Đầu Sư phái Ngọc (Ngọc Lịch Nguyệt). Vốn căn bản Đạo Minh Sư, thờ Tam Giáo, với Phẩm tước cao trọng trong thành phần lãnh đạo, Ngài được giao chọn kinh dùng trong nghi lễ. Các bài Ngọc Hoàng Thượng Đế (Đại La…), Phật Giáo (Hỗn Độn Tôn Sư…), Tiên Giáo (Tiên Thiên khí hóa…) và Nho Giáo (Quế Hương nội điện…) được chọn dùng trong kinh Cao Đài.

Ngày 17-5 Bính Dần, Ngài Nguyễn Ngọc Tương thọ Thiên Phong phẩm Phối Sư và ngày lễ Thiên Phong chức sắc lần 2, Ngài được ân ban phẩm Chánh Phối Sư.

Ngày 10-9 Bính Dần, Thầy ân phong Ngài Trần Văn Thụ (Thái Lão Sư Trần Đạo Minh) (1857-1927) phẩm Chưởng Pháp phái Ngọc.

Đầu năm Bính Dần, Quý Ngài Lê Văn Trung, Vương Quang Kỳ, Cao Quỳnh Cư, Nguyễn Văn Kinh đến Linh Quang Tự xin lập đàn. Thái Lão Sư Trần Đạo Quang (1870-1946) chịu quy hiệp Cao Đài trong đó đặc biệt có chư vị Nguyễn Văn Tương (sau thọ thiên phong Thượng Chưởng Pháp), Nguyễn Văn Kinh và nhiều vị khác nữa.

Ngày 12-12 Bính Dần (15-01-1927), Ngài Trần Đạo Quang thọ phong Ngọc Chưởng Pháp.

Ngày 26-6-1926, Ngài Nguyễn Ngọc Thơ (1873-1950) và bà Lâm Hương Thanh (1874-1937) thượng sớ Cầu Đạo, được Đức Chí Tôn thâu nhận làm tín đồ cốt cán.

Tiếp theo sau đó, nhiều vị tu theo Minh Sư và những vị có học thức, có danh tiếng, quy hiệp về Cao Đài như Ca Minh Chương, Yết Ma Nhung, Yết Ma Luật, Yết Ma Giống, Đốc Phủ Lê Bá Trang, Tri Phủ Mạc Văn Nghĩa, Thông Phán Ngô Tường Vân, Nghiệp chủ Nguyễn Phát Đạt, Đại Hương Cả Ngô Văn Kim,Thông Phán Nguyễn Văn Giỏi, Nghị viên Nguyễn Văn Lai, Cai Tổng Nguyễn Văn Chức, v.v…

Kể từ tháng 3-1926, số người nhập môn Cao Đài ngày càng nhiều. Các Đàn Phổ Độ nhanh chóng được mở thêm như Trường Sanh Tự, Vạn Phước Tự, Đàn Lộc Giang, Đàn Thủ Đức…

Ngày 13-3 Bính Dần (24-4-1926), Ngài Ngô Văn Chiêu từ tạ phẩm vị Giáo Tông của phương tu phổ độ (hữu hình), trở lại tiếp tục con đường nội tu Tâm Truyền (vô vi) sau nầy lập nên Phái Chiếu Minh (Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi).

Giờ Tý ngày Rằm tháng Ba Bính Dần (26-4-1926), tại nhà Ngài Lê Văn Trung, chư vị Thiên Phong lập đàn thọ phong chức sắc, đến trước Bàn Ngũ Lôi và bàn Hộ Pháp quỳ thề làm tròn Thiên Đạo và dìu dắt mấy em, môn đệ của Cao Đài Ngọc Đế. Các vị chức sắc gồm: Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, Ngọc Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, Hộ Pháp Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo sĩ Phạm Công Tắc, Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ Cao Quỳnh Cư, Tiên Đạo Phò Cơ Đạo sĩ Trương Hữu Đức và Nguyễn Trung Hậu, Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Đạo Giáo Sư Vương Quang Kỳ, Tiên Đạo Công Thần Thuyết Đạo Sư Đoàn Văn Bản.

 Ngày 28-6 Bính Dần (06-8-1926), tại Tam Tông Miếu Minh Lý Thánh Hội, Đức Lục Đinh Thần, vâng lịnh Đức Đạo Tổ, truyền phải sắm 12 cuốn kinh Sám Hối cho thiệt tốt và cho đi mời Ngài Lê Văn Trung, Lê Văn Lịch, Vương Quang Kỳ,… đến làm lễ thỉnh kinh. Trong bộ kinh Sám Hối có các bài kinh: Bài Niệm Hương (Đạo gốc bởi…), bài Khai kinh (Biển trần khổ…), bốn bài Chú, bài Tặng Thiên Đế nguyên là bài Đại La Thiên Đế…, kinh cầu siêu (sám cầu siêu).

Đêm mồng 1 rạng mồng 2-7 Bính Dần, tại Vĩnh Nguyên Tự, Thầy dạy ngài Ngọc Lịch Nguyệt lập Tam Trấn chứng đàn. Quý ông Nguyễn Ngọc Tương, Ngô Văn Kim và Nguyễn Ngọc Thơ lập thệ có mặt quý Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang. Cũng trong đêm này, Thầy ân ban tịch đạo “Thanh” cho Nam Phái.

Ngày mồng 3-7 Bính Dần, tại nhà Ngài Thượng Trung Nhựt, lễ thọ nhận Thiên Phong lần 2 cho quý vị vừa được ân ban trong đêm mồng 1 rạng mồng 2 tháng 7 ở Vĩnh Nguyên Tự.

Ngày 13 tháng 8 Bính Dần (18-9-1926), Thầy nhắc lại Thánh lệnh tổ chức Lễ Khai Minh Đại Đạo vào ngày Rằm tháng Mười có Đại Hội cả Tam Giáo.

Ngày Rằm tháng 8 Bính Dần, Thầy dạy hai Ngài Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt phải hội “chư Thánh” làm đơn mà xin Khai Đạo.

Ngày 23-8 Bính Dần (29-9-1926), theo lịnh Ơn Trên, cuộc họp lập tờ Khai Tịch Đạo được tổ chức tại nhà Ông Nguyễn Văn Tường ở hẻm đường Galliéni (nay là số 208 Cô Bắc, Quận 1). Sau buổi họp, Thầy giáng dạy lập danh sách đem vào tờ Khai Đạo, ấn định ngày gởi, đồng thời dạy chư vị cần có ý thức thêm về việc quảng bá mối Đạo Trời. Danh sách đứng tên Khai Tịch Đạo chính thức nộp cho Toàn Quyền Le Fol vào ngày thứ năm 07-10-1926 (01-9 Bính Dần) gồm 28 vị đại diện cho 247 (chính xác là 245) vị hiện diện.

Ngay sau khi gởi tờ Khai Tịch Đạo lên Thống Đốc Nam Kỳ, chư Tiền Khai lập tờ “Phổ Cáo Chúng Sanh” để gởi đi khắp nơi.
Ngày mùng 7 tháng 9 Bính Dần (13-10-1926), Thầy duyệt sửa nội dung tờ “Phổ Cáo Chúng Sanh” và dạy phải cấp lo phổ độ, phải phân nhau mà đi cho khắp. Quý Ngài liền chia nhau làm ba nhóm. Nhóm truyền đạo Cao Đài thứ ba được phân công về Tây Ninh gồm các tiền bối: Lê Bá Trang, Vương Quang Kỳ, Yết Ma Lê Văn Nhung, Sư Kinh Hối, Trần Văn Liêng… Phò loan có quý Ngài Cao Quỳnh Diêu và Cao Quỳnh Cư.
Ngày 16-7 Bính Dần (23-8-1926), có mặt quý Ngài Thượng Trung Nhựt, Ngọc Lịch Nguyệt, Thái Thơ Thanh và Hòa Thượng Như Nhãn (Thích Từ Phong), tục danh là Nguyễn Văn Tường (1874-1938)- chủ chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự), Đức Thích Ca Mâu Ni Phật tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương, dạy Hòa Thượng Như Nhãn: “… Ta trông công hiền đồ mà lập thành cho nước Nam làm chủ của nền chơn đạo. Nơi đây là Thánh địa, Ta lập Thánh Thất, hiền đồ có lòng giúp Ta chăng?” Hòa Thượng Như Nhãn vâng lệnh hứa thuận lòng chuyển Từ Lâm Tự thành Thánh Thất Cao Đài. Sau khi có được địa điểm, Ngài Thượng Trung Nhựt làm đơn xin phép lập lễ hội để hành Đại lễ Khai Minh Đại Đạo dự kiến trong ba ngày 14, 15 và 16 tháng 10 năm Bính Dần. Ông Bà Nguyễn Ngọc Thơ hoàn chỉnh thánh thất Gò Kén (Từ Lâm Tự) với các hạng mục như: láng xi măng sân chùa, đào giếng trồng hoa, làm đường đá từ chùa ra đường cái, v.v…
Trong nội điện Từ Lâm Tự, ngày 12-8 Bính Dần, Đức Chí tôn dạy Ông Nguyễn Văn Kiệt (1881-1965) mướn thợ làm bảy cái ngai chạm trổ để chưng trước Thiên Bàn: một cái trọng hơn cho Giáo Tông, ba cái cho ba vị Chưởng Pháp, ba cái cho ba vị Đầu Sư. Đức Chí Tôn cũng dạy Ông Thái Bính Thanh (Lâm Quang Bính) làm một trái Càn Khôn bề kính tâm ba thước ba tấc và vẽ tại ngôi sao Bắc Đẩu con mắt Thầy để thờ và dạy Ngài Thái Thơ Thanh lo sắp xếp cách thờ với đủ tượng Tam Giáo Đạo Tổ (Đức Phật Thích Ca, Đức Lão Tử và Đức Khổng tử), Tam Trấn Oai Nghiêm (Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Lý Thái Bạch Kim Tinh, Đức Quan Thánh Đế Quân), Đức Chúa Giê Su và Đức Khương Thái Công.
 Ngoài sân Từ Lâm Tự, Ngài Thái Thơ Thanh mướn thợ đúc một tượng bằng xi măng cốt sắt hình Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa trắng, có người hầu trung tín Xa Nặc chạy theo sau, đặt ngay trước cửa chùa, hướng vào chánh môn.
Đúng ngày đại lễ Khai Minh Đại Đạo, suốt ngày đêm, hàng chục xe hơi và nhiều loại phương tiên vận chuyển khác chở quan khách đến dự tấp nập. Hàng ngàn, hàng vạn thịện nam tín nữ từ khắp nơi tựu hội về Thánh thất Gò Kén, tạo nên khung cảnh vô cùng náo nhiệt. Bá tánh thập phương đến tham dự quá đông nên lễ phải kéo dài liên tiếp đến ba tháng.
 Đêm 14 rạng rằm tháng 10 Bính Dần (18-19.11.1926), lễ Lập Vị tấn tôn chư chức sắc Hội Thánh. Thành phần lãnh đạo Hiệp Thiên Đài có các Ngài: Hộ pháp Phạm Công Tắc, Thượng phẩm Cao Quỳnh Cư, Thượng sanh Cao Hoài Sang. Bên Cửu Trùng Đài có các Ngài Thượng Chưởng pháp Nguyễn Văn Tương, Thái Chưởng pháp Như Nhãn, Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ, ba vị Đầu sư Thượng Trung Nhựt, Thái Minh Tinh, và Ngọc Lịch Nguyệt, ba vị Chánh Phối sư: Thượng Tương Thanh, Thái Thơ Thanh và Ngọc Trang Thanh. Tiếp theo là các chức sắc Nam phái khác và nữ Phái. Từ đây Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nay là Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh đã chính thức hình thành và trình diện trước nhân sanh, với đầy đủ thẩm quyền thị hiện Thánh Thể Đức Chí Tôn tại thế.
 Đêm Rằm rạng 16 tháng 10 Bính Dần (19-20.11.1926), Đức Chí Tôn ân ban Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam Phái. Ngày 11 tháng Giêng Đinh Mão (12-02-1927) Đức Lý Thái Bạch ân ban Pháp Chánh Truyền Nữ Phái. Ngày 12 tháng Giêng Đinh Mão, Đức Chí Tôn ân ban Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài.
 Ngày 24-12-1926 (20-11 Bính Dần) chư vị tiền khai đồng tựu về tại Thánh thất Gò Kén được Đức Lý Thái Bạch giáng dạy rõ thời biểu họp “Cải Luật”, Tân Luật Cao Đài. Ngày 25-12-1926 (21-11 Bính Đần), Đức Lý Thái Bạch giáng dạy Hội Thánh trong ba tuần nữa phải lập thế nào cho rồi luật. Đến ngày 12 tháng Chạp Bính Dần (15-01-1927), Đức Lý Thái Bạch giáng dạy nghi thức buổi lễ dâng luật. Ngày hôm sau, 13 tháng Chạp Bính Dần, tại chánh điện Thánh thất Gò Kén, lễ dâng trình Tân Luật đã được tiến hành. Khởi đầu từ ba vị Chánh Phối sư dâng cho ba vị Đầu Sư và Ba vị Đầu Sư dâng cho hai vị Chưởng Pháp. Nhị vị Chưởng Pháp tiếp luật rồi lại đưa ngang khỏi đầu dâng cho Đức Khương Thái Công và Thánh Chúa Giê Su, rồi để trước Tiên vị của Đức Lý Thái Bạch một ngày một đêm để được Ngài xét đoán.
Sau khi được giao cho Nhị vị Chưởng Pháp xem xét lại, Ngày 14 rạng rằm tháng Giêng Đinh Mão, Hội Thánh trình dâng Tân Luật lên Ơn Trên. Sau đó Tân Luật được phê duyệt và ban hành ngày mồng 4 tháng 2 năm Đinh Mão (07-3-1927).
Từ đây, căn cứ theo Pháp Chánh Truyền và Tân Luật đã ban hành, Hội Thánh nắm quyền pháp điều hành cơ Đạo trên tất cả các phương diện.

Ngày 30-10 Bính Dần, Hòa Thượng Như Nhãn đòi lại Chùa Gò Kén nhưng quý vị Tiền bối nhờ quen biết nhiều với Tham Biện tỉnh Tây Ninh, tìm cách giải thích làm dịu bớt sự thúc bách đòi chùa của Hòa Thượng Như Nhãn nên công việc hành lễ hàng ngày vẫn tiếp tục bình thường.

Đàn ngày 18-01 Đinh Mão (19-02-1927), Đức Lý Thái Bạch dạy trả lại chùa cho Hòa Thượng Như Nhãn. “Song trước khi trả phải cất Thánh thất cho xong. Chư đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập Tòa Thánh.”

Liền ngày hôm sau (20-02-1927), chư quý vị đi tìm đất, mỗi người đề nghị mua một vùng khác nhau và trình Ơn Trên chỉ dạy. Ngày hôm sau nữa (21-02-1927), chư quý vị đề nghị thêm một vùng khác nữa, Đức Lý Thái Bạch lại gợi ý một lần nữa đi lên đường “giây thép” nhắm địa thế cho tới Ngã ba Ao Hồ.

 Ngày 22-02-1927, quý vị theo hướng dẫn, đi tìm đất có địa chỉ quận Thái Bình (sau đổi là quận Phú Khương nay là huyện Hòa Thành), tổng Hàm Ninh, làng Long Thành. Chủ đất là ông kiểm lâm người Pháp tên là Aspar. Tối lại, Hội Thánh cầu Đức Lý Thái Bạch để thỉnh ý Ngài xem khu đất đó có trúng hay không. Đức Lý Thái Bạch khen ngài Thái Thơ Thanh và xác nhận đất đó là đúng Thánh Địa. Đức Lý cắt nghĩa “Sâu hơn ba trăm thước như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa sáu nguồn, làm như sáu con rồng đoanh nhau. Nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi gọi là Lục Long Phò Ẩn….”

Ngày 24-02-1927 (23-01 Đinh Mão), Đức Lý Thái Bạch dạy thêm chi tiết về giá tiền mua bán và nên khai khẩn miếng đất rừng bên kia cho trọn. Việc tìm mua đất lập Thánh Địa mau chóng hoàn tất trong chỉ vài ngày do nhị vị Chánh Phối sư Thượng Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương) và Hương Thanh (Lâm Thị Thanh) đứng tên đại diện cho Đạo. Công tác tiếp ngay sau đó là khai phá rừng và xây dựng tạm một nơi che nắng mưa để chuyển tất cả các trang nghi thờ phượng từ chùa Gò Kén về nơi mới.

Ngày 27-01 Đinh Mão (28-02-1927), Đức Lý Thái Bạch dạy: “Thánh thất tạm phải cất ngay miếng đất trống. Còn Hiệp Thiên Đài tạm phải cất trước Thánh thất tạm.”

Ngày 13-02 Đinh Mão (16-3-1927), Hội Thánh bắt đầu dời chùa, đầu tiên là chuyển tượng phật Thích Ca cỡi ngựa trắng rồi đến quả Càn Khôn, các bức tượng Tam Giáo Đạo Tổ, Tam Trấn, Ngũ Chi…

Ngày 20-02 Đinh Mão (23-3-1927), Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chính thức trả Thiền Lâm Tự lại cho Hòa Thượng Như Nhãn và bắt đầu sinh hoạt tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Trong thời gian đại lễ khai Minh Đại Đạo, Ngài Phạm Công Tắc xin phép nghỉ làm việc sáu tháng. Sau cuộc lễ, nhà cầm quyền Pháp chuyển Ngài lên Nam Vang vào đầu tháng 5-1927. Nhân dịp nầy Ngài truyền bá đạo Cao Đài tại Nam Vang, tạo dựng cơ sở đầu tiên thành lập Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Đài. Ngày 27-7-1927, Đức Chí Tôn ân phong Ngài Cao Đức Trọng phẩm Tiếp Đạo, Ông Lê Văn Bảy thọ phong Giáo Hữu phái Thượng, Ông Lê Văn Lắm Giáo Hữu phái Thượng, Ông Võ Văn Sự Giáo hữu Phái Ngọc, Ông Đặng Văn Chữ lễ sanh Phái Thượng, Ông Trần Quang Vinh (1897-1977), lễ Sanh Phái Thượng, v.v.

Ngày 06-01-1928, Ngài Phạm Hộ Pháp rời bỏ nhiệm sở ở Nam Vang trở về Tòa Thánh Tây Ninh, sau đó xuống Thủ Đức được Đức Lý Giáo Tông dạy thêm về Thể Pháp.

Ngày 15-4-1928 (26-02 nhuần Mậu Thìn), Ngài Thượng Trung Nhựt được Đức Chí Tôn dạy phải Chưởng Quản Tòa Thánh, sau đó, Đức Lý Thái Bạch tạm nhường quyền Giáo Tông cho Ngài.

Ngày 14-5 Canh Ngọ (1930), Đức Lý Giáo Tông ra lịnh Hội Thánh phải khởi công cất Tòa Thánh trong năm Canh Ngọ.

Ngày 17-6 Canh Ngọ (12-7-1930), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt ra Châu tri ban hành cuốn “Nghi Tiết Đại Đàn-Tiểu Đàn” trong đó có 3 bài Dâng Tam Bửu mới: Dâng hoa (Từ bi giá ngự…), Dâng rượu (Thiên ân huệ…), Dâng trà (Mai xuân nguyệt…) đã được Đức Chí Tôn duyệt, thay thế 3 bài Dâng Tam Bửu cũ mà trước đây Ngài Ngô Văn Chiêu đã chuyển qua: Dâng hoa (Hoa tươi năm sắc…), Dâng rượu (tửu vị hương hề…), Dâng trà (Đông độ thanh trà…).

Sau ngày Châu tri ban hành nghi lễ mới, Các chức sắc Thánh thất Cầu Kho không tuân hành, và tách ra không phục tùng Tòa Thánh Tây Ninh. Phái Cầu Kho quy tụ các chức sắc: Thượng Giáo sư Vương Quan Kỳ, Thượng Giáo sư Đoàn Văn Bản, các Giáo hữu Trần Quang Minh, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Khai… Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang cũng có mối thâm tình với phái Cầu Kho. Đây là Phái thứ ba tách khỏi Tây Ninh sau Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi do Ngài Ngô Văn Chiêu đầu tiên trở về tu ẩn ở Cần Thơ, Phái Minh Chơn Lý ở Cầu Vĩ Mỹ Tho và Phái Tiên Thiên đã hình thành ở Cai Lậy.

Không lâu sau, Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang (1870-1946) về cùng với Thái Phối sư Nguyễn Văn Ca và nhiều tiền bối gầy dựng Phái Minh Chơn Lý. Năm 1935, Ngài về Hậu Giang cùng với Ngài Cao Triều Phát và Phan Văn Thiệu lập Phái Minh Chơn Đạo.

Ngày 03-10 Canh Ngọ (22-11-1930), Đức Lý Giáo Tông tái nhậm quyền Giáo Tông giữ nghiêm luật pháp, ban hành sáu nghị định quan trọng, có hiệu lực từ ngày Rằm Tháng 10 Canh Ngọ (04-12-1930). Theo Đạo Nghị định thứ nhì, điều thứ nhứt, Ngài Thượng Trung Nhựt đảm nhiệm Quyền Giáo Tông, điều thứ nhì: Ba vị Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh, Ngọc Trang Thanh đặng thế mặt Đầu Sư tức là Quyền Đầu Sư.

Ngày 02-02-1931, Ngài Thượng Tương Thanh về Tòa Thánh hành đạo, gởi Châu tri chào mừng chư đạo Hữu và khuyến lời sẽ đến thăm khích lệ tinh thần.

Cuối tháng 3-1931, Hội Thánh đã hoàn thành quyển Pháp Chánh Truyền Chú Giải.

Ngày 22-6-1931, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có văn thư phân công phân nhiệm Cửu Viện cho ba vị Chánh Phối Sư.

Ngày 01-10 Tân Mùi (1931), Hội Thánh lập nội luật Tòa Thánh.

Ngày 15-10 Tân Mùi (1931), Đại Hội Nhơn Sanh lần đầu tiên tại Tòa Thánh Tây Ninh do Ngài Thượng Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương chủ tọa, có đọc bài diễn văn dài trình bày tất cả đạo sự trong năm qua.

Ngày 14-11 Tân Mùi Ngài Thượng Chánh Phối sư Nguyễn Ngọc Tương mở lớp dạy đạo cho chức sắc và chức việc.

Ngày 22-11 Tân Mùi, Thượng Giáo Hữu Trần Quang Vinh (Hiển Trung) sau 9 tháng đi truyền đạo ở Pháp trở về với kết quả thành công tốt đẹp với năm vị được thọ phong chức sắc vào năm 1932: 1- Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron, 2- Nữ Giáo sư Félicien Challaye, 3- Giáo hữu Charles Bellan, 4-Giáo hữu Gabriel Abadie de Lestrac, 5- Nữ Lễ Sanh Marguerite Gobron và được cho tự do tín ngưỡng.

Ngày 03-01 Nhâm Thân (1932), Đức Hộ Pháp lập Phạm Môn tổ chức lễ Hồng thệ thọ Đào Viên Pháp cho 72 môn đệ Phạm Môn và ra thập điều giới răn, làm nội luật Phạm môn.

Ngày 22-01 Nhâm Thân (1932), Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp lập Nội Luật Thượng Hội.

Ngày 15-10 Nhâm Thân (1932), Hội Nhơn Sanh lần thứ hai Tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ông Thượng Chánh Phối sư Nguyễn Ngọc Tương có bài tường trình các đạo sự trong năm qua.

Ngày 07-11 Nhâm Thân (1932), Đức Hộ Pháp ban hành Hiến Pháp và Nội Luật Hiệp Thiên Đài.

Ngày 20-01 Quý Dậu (1933), Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn bổ Giáo Sư Thượng Bảy Thanh đi hành đạo ở Hà Nội. Thượng Giáo Sư Trần Quang Vinh làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo.

Ngày 07-3 Quý Dậu (1933), Đức Quyền Đầu Sư hiệp với Đức Hộ Pháp ra Châu Tri số 1 sắp đặt các chức vụ lãnh đạo Cửu Trùng Đài. Ba vị Chánh Phối Sư chánh thức thăng lên lên Quyền Đầu Sư là Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh.

Sau ngày lễ vía mồng 9 tháng Giêng Giáp Tuất (1934), Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh xin nghỉ phép một tháng dưỡng bịnh và lui về ẩn tu tại núi Kỳ Vân ở Bà Rịa.

Ngày 16-6 Giáp Tuất (27-7-1934), Ban Chỉnh Đạo do hai Ngài Quyền Đầu sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh, gởi Châu tri số 4 về chương trình Chỉnh Đạo có sáu điều. Kết quả Ban Chỉnh Đạo được thành lập ban đầu với 85 trên tổng số 128 thánh thất của Tòa Thánh Tây Ninh đã tách về lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo ở Bến Tre.

Ngày 15-7 Giáp Tuất (1934), Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Hộ Pháp lập thêm nghị định số 8, quyết Chi Phái nào không do nơi mạng lịnh Hội Thánh thì phải định quyếtbàng môn tả đạo. Mười lăm năm sau, ngày 22-3 Kỷ Sửu (19-4-1949), Đức Phạm Hộ Pháp kiêm Thượng Tôn Quản Thế ban hành huấn lệnh số 380 gởi chư vị Khai Pháp, Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh, Q. Ngọc Chánh Phối Sư, Q. Thượng Chánh Phối Sư, Chưởng Quản Phước Thiên, Q. Chưởng Quản Phái Tiên Thiên và toàn đạo Nam Nữ: “Bần đạo đã ân xá cho toàn thể Chi Phái, bất cứ là ai vâng y luật pháp Tòa Thánh sẽ là tín đồ chánh thức của đạo Cao Đài. Danh từ Ban Chỉnh Đạo hay là Tiên Thiên đều là phụ thuộc thì chẳng nên vì danh từ ấy mà gọi là chia rẽ rồi hẹp lượng, khinh thường, buộc ràng, khắc khổ ấy là đi ngược dòng trào lưu đoàn kết quy hiệp.

Vậy Hội Thánh và các cơ quan chánh trị đạo cùng là quân đội không còn đặng phép đối đãi với người từng chi phái là ngoại nhân bất hợp nữa…”

Ngày 13-10 Giáp Tuất (1934), Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Thiên tại Giáo Tông Đường, Lễ an táng rất long trọng tổ chức trong 12 ngày liền. Tượng Ngài được tạc nơi lầu chuông Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh.

Chiều ngày 26-10 Giáp Tuất (02-12-1934) Hội Thánh có phiên họp quyết định Ngài Phạm Hộ Pháp “cầm quyền thống nhứt” cả Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài: Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài.

Ngày 16-11 Giáp Tuất (1934), Đức Hộ Pháp ký ba văn bản pháp quy: Luật Lệ chung các Hội, Nội Luật Hội Nhơn Sanh, Nội Luật Hội Thánh.

Ngày 06-11 Giáp Tuất (12-12-1934), Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài, ký các đạo Nghị định số 28-29-30-31-32 cử các chức sắc Quyền Đầu Sư, Chánh Phối Sư, lập Ban Phụ Chánh phụ giúp Đức Hộ Pháp.

THỜI KỲ 1935 – 1956 ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC CHƯỞNG QUẢN NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI, CẦM QUYỀN NỀN ĐẠO

Giai đoạn 1935-1941 đến khi Đức Phạm Hộ Pháp bị lưu đày

Ngày 08-01 Ất Hợi (11-02-1935), Đại Hội Vạn Linh Ban Chỉnh Đạo tại Thánh thất Bến Tre bỏ thăm bầu Ngài Nguyễn Ngọc Tương làm Giáo Tông.

Ngày 15-02 Ất Hợi (1935) Đức Hộ Pháp chuyển Phạm Môn thành Cơ Quan Phước Thiện, mở các sở Lương điền, Công nghệ, Thương mãi trong 20 tỉnh, bổ nhiệm 20 vị Lễ sanh Giáo Thiện đi làm Đầu Họ Phước Thiện trong 20 tỉnh của Nam Kỳ để dự bị xây cất Tòa Thánh.

Ngày 16-02 Ất Hợi (1935), Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn được lịnh Đức Chí Tôn lập các phẩm Chức sắc thứ cấp Hiệp Thiên Đài dưới Thập Nhị Thời Quân từ Sĩ Tải lên đến Tiếp Dẫn Đạo Nhơn. Ngày 23-5 Bính Tý (1936) Đức Hộ Pháp ra sắc lịnh lập thêm phẩm Luật Sự dưới phẩm Sĩ Tải.

Ngày 23-7 Ất Hợi đến 04-8 Ất Hợi (21-31/8/1935) Các Đấng giáng cơ tại Tòa Thánh ban kinh Tận Độ vong linh, tức là Tân Kinh của ĐĐTKPĐ trong đó có kinh Di Lạc do Đức Thích Ca Mâu Ni giáng ban. Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn ban cho 6 bài kinh: Kinh Tắm Thánh, Kinh Cầu Hồn khi hấp Hối, Kinh khi đã chết rồi, Kinh tẩn liệm, Kinh đưa linh cửu, Kinh hôn phối. Riêng về Kinh Thế Đạo gồm 19 bài. Mười bài đầu do Đức Hộ Pháp đặt ra và được Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn chỉnh lại. Phật Mẫu Chơn Kinh được Đức Bát Nương giáng ban vào ngày rằm tháng tám tại Kiêm Biên Tông Đạo nơi Báo Ân Đường của Thừa Sử Huỳnh Hữu Lợi do Đức Hộ Pháp phò Loan.

Ngày 23-9 Ất Hợi (1935) Đức Hộ Pháp rút 3 vị Thời Quân gồm Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, Khai Thế Thái Văn Thâu trở về Hiệp Thiên Đài và bổ 3 vị Phối Sư Thái Tu Thanh, Thượng Thành Thanh, Ngọc Trọng Thanh cầm quyền Chánh Phối Sư 3 phái.

Ngày 16-01 Bính Tý (1936) Tiên Nương Đoàn Thị Điểm được lịnh giáng cơ ban cho tám bài kinh Thế Đạo gồm: Kinh tụng khi Vua thăng hà, Thầy đã quy vị, Tổ Phụ đã quy liễu, Cha mẹ đã qui liễu, Bà con Thân bằng cố hữu đã qui liễu, Huynh Đệ mãn phần, Chồng quy vị, Vợ quy liễu.

Ngày 29-5 Bính Tý (1936), Ngài Thượng Chưởng Pháp Ban Chỉnh Đạo Lê Bá Trang quy liễu tại Bến Tre được di Liên Đài lên Tòa Thánh Tây Ninh an táng.

 Ngày 01-11 Bính Tý (1936), Đức Hộ Pháp làm lễ khởi công xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh, 500 thanh niên nam nữ công quả lập thệ, hiến thân vào Hội Thánh để làm lực lượng công thợ và lao động nòng cốt hàng ngày.Trước nhứt làm cửa ngõ Tòa Thánh, hồ lọc nước, hai văn phòng kỷ niệm nam phái và nữ phái, nhà đèn, Báo Ân Từ.

Năm Đinh Sửu (1937), cất dinh thự cho chức sắc Hiệp Thiên Đài, tạo tác Tòa Thánh, tạo tác Tòa Nội Chánh, tạo Thuyền bát nhã, mua thêm sở đất rừng 50 mẫu, mở rộng thêm nhiều con đường trong Thánh địa.

Ngày 27-01 Đinh Sửu (1937), Giáo Sư Thượng Bảy Thanh lãnh lịnh Hội Thánh Ngoại Giáo đi hành đạo tại Hà Nội.

Ngày 08-4 Đinh Sửu (1937), Tiền Khai Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh đăng Tiên, được Đức Chí Tôn ân tứ lên phẩm Đầu Sư và được tạc tượng nơi lầu trống Tòa Thánh.

13-4 Đinh Sửu (1937), Hội Thánh Ngoại Giáo tổ chức lễ khánh thành Thánh thất Kim Biên rất long trọng và thành công.

12-10 Đinh Sửu (1937), Đại Hội Nhơn Sanh.

14-10 Đinh Sửu (1937), Đại Hội Hội Thánh.

15-10 Đinh sửu (1937), Thượng Hội và Đại Hội Phước Thiện.

08-01 Mậu Dần, (07-02-1938), Hội Thánh ban hành đạo luật năm Mậu Dần quy định nền Chánh Trị Đạo có bốn cơ quan: Hành chánh và Phổ tế thuộc Cửu Trùng Đài, Phước thiện và Tòa Đạo (Pháp Chánh) thuộc Hiệp Thiên Đài.

18-8 Mậu Dần (1938,) Châu tri số 61: Hội Thánh dạy cách lạy và tang tế sự.

19-10 Mậu Dần (1938), Đạo Nghị Định của Đức Hộ Pháp hiệp cùng Đức Lý Giáo Tông thành lập Cơ Quan Phước Thiện, tiền thân là Phạm Môn, là của đạo Cao Đài. Cơ Quan có thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, số lượng chức sắc trong mỗi phẩm không giới hạn.

Từ đấy, Đức Hộ Pháp ngày càng củng cố và phát huy nền Đạo, xây cất Tòa Thánh Tây Ninh và các dinh thự trong nội ô với tiến độ rất nhanh.

Ngày 05-5 Kỷ Mão (1939), Đức Hộ Pháp lập Hội Thánh Hàm Phong và Ban Kỳ Lào.

Ngày 06-5 Kỷ Mão (1939), Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron đại điện đạo Cao Đài tham dự các Hội Nghị quốc tế về tôn giáo và Thần Linh Học ở Âu Châu.

Ngày 16-6-1940, Toàn Quyền Decoux ra lệnh đóng cửa Tòa Thánh.

Ngày 23-7 Canh Thìn (1940), Báo Ân Từ đóng cửa.

Ngày 8-11 Canh Thìn (1940), chánh quyền Pháp đem xe hơi vào nội ô Tòa Thánh bắt chức sắc và đạo hữu chở ra Tây Ninh.

Ngày 25-5 Tân Tỵ (19-6-1941), nhà cầm quyền Pháp ra lịnh cấm các công thợ tạo tác Tòa Thánh.

Ngày 04-6 Tân Tỵ (28-6-1941), lính mật thám vào Tòa Thánh bắt Đức Hộ Pháp giải về Sài Gòn, giam vào Khám Lớn.

Ngày 17-6 Tân Tỵ (11-7-1941), lính mật thám bắt thêm Chánh Phối Sư Ngọc Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển ở Tòa Thánh. Đồng thời ở Sài Gòn chúng bắt Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, và tại Nam Vang chúng bắt Giáo Sư Thái Phấn Thanh.

Ngày 04-6 nhuần Tân Tỵ (27-7-1941), chính quyền Pháp đưa Đức Hộ Pháp và 5 vị chức sắc lưu đày ở đảo Madagascar Phi Châu. Lúc bấy giờ Tòa Thánh đã xây dựng hoàn tất hầu hết các hạng mục, chỉ còn phần trang trí bên trong. Việc xây cất Tòa Thánh tạm thời bị ngưng, đồng thời các thánh thất trực thuộc cũng bị đóng cửa..

 Ngày 07-8 Tân Tỵ (1941), quân đội Pháp chiếm đóng Tòa Thánh. Các chức sắc còn lại đều phải lánh mặt.

Giai đoạn 1942-1946 đến khi Đức Phạm Hộ Pháp trở về

Ngày 20-8 Nhâm Ngọ (1942), chánh quyền Pháp ở Cao Miên chiếm đóng Thánh thất Kim Biên.

Ngày 01-12 Nhâm Ngọ (1942), mười hai chức sắc Cao Đài Tây Ninh dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Trần Quang Vinh thỏa thuận hợp tác với hai sĩ quan Nhựt Kynura và Mouchijiki tuyển khoản 3.000 tín hữu Cao Đài vào làm công nhân tại hãng tàu NITINAN của Nhựt Bản, ban ngày làm thợ, ban đêm lo tập luyện quân sự chờ ngày hiệp tác đảo chánh Pháp với quyết tâm đòi Pháp trả tự do cho Đức Hộ Pháp.

Ngày 18-8-1945, Nhựt đầu hàng Đồng Minh.

Ngày 24-9-1945, trụ sở Ủy Ban Hành Chánh bị quân Đồng Minh chiếm. Pháp trở lại nắm quyền ở Đông Dương. Sau đó Giáo sư Trần Quang Vinh bị bắt và thương lượng ký hiệp ước. Quân đội Cao Đài ngưng chiến với Pháp.

 Tòa Thánh và các thánh thất được mở cửa, Đạo được tư do trong phạm vi tôn giáo, Pháp trao trả Đức Hộ Pháp và chư vị chức sắc Đại Thiên phong về nước.

Ngày 04-8 Bính Tuất (30-8-1946), Đức Hộ Pháp trở về tái thủ Tòa Thánh Tây Ninh, sau 5 năm 2 tháng 3 ngày bị lưu đày ở Madagascar trong tình thế sau khi quân đội Cao Đài đã được thành lập trước đó 3 năm 9 tháng.

Giai đoạn 1947-1956 cho đến khi Đức Phạm Hộ Pháp lưu vong sang Cao Miên

Năm 1954, Tiếp Đạo Cao Đức Trọng lãnh nhiệm vụ truyền giáo ngoại quốc, kiêm nhiệm Cố vấn Hành Chánh Đạo và cầm quyền Thống Quản Hội Thánh Phước Thiện.

Ngày 11-3 Ất Mùi (02-5-1955), Đức Hộ Pháp ban hành Thánh lịnh số 70/VPHP cho Quân Đội Cao Đài được quốc gia hóa theo chánh phủ Ngô Đình Diệm. Từ đây đạo Cao Đài không còn có quân đội.

Khuya ngày 15-02-1956, Đức Hộ Pháp cùng với năm người tình nguyện tháp tùng trong đó có Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa rời Tòa Thánh Tây Ninh lên Nam Vang để tránh cuộc đổ máu bạo hành của Tướng Nguyễn Thành Phương.

THỜI KỲ 1957-1971 ĐỨC THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG CẦM QUYỀN ĐẠO

Ngày 17-5-1959 (10-4 Kỷ Hợi), Đức Hộ Pháp quy Thiên ở Nam Vang. Kim thân Đức Hộ Pháp sau hơn 47 năm nhập tháp tại Thánh thất Kim Biên, ngày 10-10 Bính Tuất (30-11-2006) Liên Đài Đức Hộ Pháp được rước từ Nam Vang về Tòa Thánh Tây Ninh với nghi thức long trọng. Hội Thánh tổ chức tang lễ trong năm ngày. Ngày 15-10 Bính Tuất (05-12-2006), làm lễ nhập Bửu Tháp Hộ Pháp.

Ngày 02-4-1957 và 20-4-1957, Hội Thánh Tây Ninh thỉnh cầu Thượng sanh Cao Hoài Sang về Tòa Thánh nắm quyền đạo. Ngày 14-5-1957, Ngài Thượng sanh Cao Hoài Sang chính thức nắm quyền Chưởng Quản Hội Thánh. Ngày 26-3 Tân Hợi (21-4-1971), Ngài Thượng sanh đăng Tiên, liên đài được quàn tại Giáo Tông đường làm tang lễ trong 10 ngày rồi nhập bửu tháp. Trong thời gian lãnh đạo Hội Thánh, Ngài Thượng sanh chú trọng chấn chỉnh Bộ Nhạc trong nghi lễ, hoàn thiện nhạc đạo trên căn bản nhạc cổ truyền dân tộc, tiếp tục xây dựng nhiều công trình trong nội ô Tòa Thánh như Hội Thánh Ngoại Giáo (Hội Vạn Linh), Đầu sư Đường, Chánh môn, làm vòng rào, làm các cửa, Văn phòng Ban Thế Đạo, Bắc Tông Đạo, Đường Nhơn, Tần Nhơn, xây dựng Cơ quan Phát thanh Phổ thông giáo Lý, v. v.

THỜI KỲ 1972-1976 CÁC VỊ THỜI QUÂN CẦM QUYỀN NỀN ĐẠO

Ngày 21-5 Tân Hởi (13-6-1971), lễ tấn phong Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Ngày 17-4 Quý Sửu (19-5-1973), Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm và Đức Hộ Pháp ban đặc quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài cho Hiến Pháp Trương Hữu Đức (1890-1976) lãnh đạo Hội Thánh.

Ngày 18-02-1976, Ông Khai Đạo Phạm Tấn Đãi được Hội Thánh Hiệp Thiên Đài đề cử với sự chấp thuận của Đức Hộ Pháp, lập minh thệ nhận trách vụ Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài. Hành sự vừa đặng một tháng thì Ngài Khai Đạo quy vị.

THỜI KỲ SAU 1975 ĐẾN NAY

Ngày 01-3 Bính Thìn (31-3-1976), được sự chấp thuận phê chuẩn của Đức Hộ Pháp, ông Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa lập minh thệ nhận trách vụ vào ngày rằm tháng ba Bính Thìn (14-4-1976) thay thế Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi.

 Đạo Lịnh số 1 HT-ĐL ngày 04-2 Kỷ Mùi ( 01-3-1979) giải thể toàn bộ các cơ cấu tổ chức chánh trị đạo từ trung ương đến địa phương gồm 63 cơ quan, lập Hội đồng Chưởng quản, cơ quan hành đạo duy nhứt của Hội Thánh.

Hội đồng Chưởng quản nhiệm kỳ I từ 1979 đến 1983 gồm 12 vị do Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa làm Chưởng Quản, Đầu sư Ngọc Nhượng Thanh làm Phó Chưởng Quản.

 Nhiệm Kỳ II đổi tên là Hội Đồng Quản Lý từ 1983 đến 1987 gồm 13 vị do Ngài Chánh Phối sư Thái Hiểu Thanh làm Quyền Hội Trưởng, và hai Ngài Phối sư Thượng Phép Thanh, Cải Trạng Lê Minh Khuyên làm Phó Hội Trưởng.

Nhiệm kỳ III từ 1989 đến 1993 đổi tên là Hội Đồng Chưởng Quản gồm 8 thành viên chánh thức và 4 dự khuyết do Ngài Phối sư Thượng Thơ Thanh làm Quyền Hội Trưởng, Ngài Phối sư Thượng Phép Thanh làm Phó Hội Trưởng, Phối sư Phạm Hương Ngộ đặc trách Nữ phái, Giáo Sư Thượng Tám Thanh làm Từ Hàn (Tổng Thư Ký).

Nhiệm Kỳ IV từ 1993 đến 1997 gồm 32 thành viên do Ngài Phối sư Thượng Thơ Thanh làm Quyền Hội Trưởng và ba Ngài Phối sư Phạm Hương Ngộ, Cải Trạng Lê Minh Khuyên, Giáo Sư Thượng Tám Thanh làm Phó Hội Trưởng.

Ngày 09-5-1997, Ban Tôn Giáo Chánh Phủ ra quyết định số 10/QĐ/TGCP công nhận tư cách pháp nhân Hội Đồng Chưởng Quản Cao Đài Tây Ninh theo Hiến Chương Đinh Sửu (5-4-1997). Nhiệm kỳ I (1997-2002) gồm 52 vị do Ngài Thượng Phối Sư Hồ Ngọc Thơ làm Hội Trưởng, ba Ngài Thượng Giáo Sư Nguyễn Thành Tám, Cải Trạng Lê Minh Khuyên, Phối sư Phạm Thị Ngộ làm Phó hội Trưởng.

Nhiệm kỳ II từ 2002 đến 2007 gồm 72 vị chánh thức và 4 dự khuyết do Ngài Thượng Phối Sư Lê Thành Tám làm Hội Trưởng và ba Ngài Ngọc Phối Sư Hồ Văn Tấn, Phối Sư Huỳnh Thị Nhìn, Cải Trạng Lê Minh Khuyên làm Phó Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản.

BẢN ĐỒ TỈNH TÂY NINH


Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà
Chung hiệp rán vun nền đạo đức
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mồng 9 tháng giêng năm Bính Dần