Thống Kê Newsletter
LƯỢT TRUY CẬP:
20018 lượt
TRỰC TUYẾN:
1 khách
SỐ THÁNH SỞ:
418 thánh sở

Tổng quan các địa phương

Tổng quan tỉnh Long An

Địa giới

Địa giới. Rộng khoảng 4.493,8km², tỉnh Long An nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, miền nam Việt Nam, đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, tây giáp tỉnh Đồng Tháp, nam giáp tỉnh Tiền Giang, bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Svay Rieng (nước Campuchia) với đường biên giới dài 137,5km, có hai cửa khẩu là Bình Hiệp ở huyện Mộc Hóa và Tho Mo ở huyện Đức Huệ.

Địa hình

Địa hình. Là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ nên địa hình Long An thấp dần từ đông bắc xuống tây nam. Bắc và đông bắc tỉnh có một số gò đồi thấp; giữa tỉnh là đồng bằng; tây nam tỉnh là vùng trũng Đồng Tháp Mười (gồm các huyện Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, và Vĩnh Hưng), trong đó có rừng tràm ngập phèn rộng 46.300ha là nơi sinh sống của rất nhiều cò, sếu đầu đỏ, rùa, rắn, ong mật…
Hệ thống sông và kênh rạch Long An chằng chịt với tổng chiều dài 8.912km. Sông Vàm Cỏ chia làm hai nhánh: Vàm Cỏ Đông (lớn nhất) và Vàm Cỏ Tây, hầu hết nằm trọn trong tỉnh Long An. Trên quốc lộ 1A từ thành phố Hồ Chí Minh đi về thành phố Mỹ Tho có cầu Bến Lức bắc qua sông Vàm Cỏ Đông, cầu Tân An bắc qua sông Vàm Cỏ Tây.

Đất Long An phần lớn là phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, nhiều vùng bị chua phèn.
Long An từ lâu đã nổi tiếng với các sản vật như gạo tài nguyên, gạo nàng thơm chợ Đào (xã Mỹ lệ, huyện Cần Đước), dưa hấu Long Trì, khóm Bến Lức, đậu phọng Đức Hòa, mía Thủ Thừa và rượu nếp Gò Đen…

Lịch sử

Lịch sử. Năm 1832 đời vua Minh Mạng, Lục Tỉnh thành hình, gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Năm 1834 Lục Tỉnh được gọi chung là Nam Kỳ. Năm 1835 tỉnh Phiên An đổi tên là tỉnh Gia Định.
Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn.
Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Khoảng năm 1868, Nam Kỳ Lục Tỉnh có hơn hai mươi arrondissement (gọi là hạt hay địa hạt), thu lại còn mười tám hạt (1871); rồi tăng lên mười chín (1876); tăng lên hai mươi (1880); bỏ hạt hai mươi (1881); rồi lập thêm hạt Bạc Liêu (1882) và hạt Cap Saint Jacques (1895) thành hai mươi mốt arrondissements.
Năm 1899 đổi tên hạt thành tỉnh (province). Lục Tỉnh cũ của Nam Kỳ chia thành hai mươi mốt tỉnh như sau:
- Gia Định chia thành năm tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công.
- Biên Hòa chia thành bốn tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Cap Saint Jacques (tức Vũng Tàu).
- Định Tường đổi thành Mỹ Tho.
- Vĩnh Long chia thành ba tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh.
- An Giang chia thành năm tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ.
- Hà Tiên chia thành ba tỉnh: Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu.

Đất Long An ngày nay khi xưa thuộc tỉnh Tân An, Chợ Lớn và một phần Sa Đéc.

Dân số

Dân số. Năm 2006 Long An có khoảng 1.423.100 người (mật độ dân số 317).

Hành chính

Hành chính. Long An có tỉnh lỵ là thị xã là Tân An và 13 huyện như sau:

Huyện Bến Lức có huyện lỵ là thị trấn Bến Lức và 14 xã: An Thạnh, Bình Đức, Long Hiệp, Lương Bình, Lương Hòa, Mỹ Yên, Nhựt Chánh, Phước Lợi, Tân Bửu, Tân Hòa, Thạnh Đức, Thạnh Hòa, Thạnh Lợi, và Thanh Phú.

Huyện Cần Đước có huyện lỵ là thị trấn Cần Đước và 16 xã: Long Cang, Long Định, Long Hòa, Long Hựu Đông, Long Hựu Tây, Long Khê, Long Sơn, Long Trạch, Mỹ Lệ, Phước Đông, Phước Tuy, Phước Vân, Tân Ân, Tân Chánh, Tân Lân, và Tân Trạch.

Huyện Cần Giuộc có huyện lỵ là thị trấn Cần Giuộc và 16 xã: Đông Thạnh, Long An, Long Hậu, Long Phụng, Long Thượng, Mỹ Lộc, Phước Hậu, Phước Lại, Phước Lâm, Phước Lý, Phước Vĩnh Đông, Phước Vĩnh Tây, Tân Kim, Tân Tập, Thuận Thành, và Trường Bình.

Huyện Châu Thành có huyện lỵ là thị trấn Tầm Vu và 12 xã: An Lục Long, Bình Quới, Dương Xuân Hội, Hiệp Thạnh, Hòa Phú, Long Trì, Phú Ngãi Trị, Phước Tân Hưng, Thanh Phú Long, Thanh Vĩnh Đông, Thuận Mỹ, và Vĩnh Công.

Huyện Đức Hòa 3 thị trấn (Đức Hòa, Hậu Nghĩa, Hiệp Hòa) và 17 xã: An Ninh Đông, An Ninh Tây, Đức Hòa Đông, Đức Hòa Hạ, Đức Hòa Thượng, Đức Lập Hạ, Đức Lập Thượng, Hiệp Hòa, Hòa Khánh Đông, Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Tây, Hựu Thạnh, Lộc Giang, Mỹ Hạnh Bắc, Mỹ Hạnh Nam, Tân Mỹ, và Tân Phú.

Huyện Đức Huệ có huyện lỵ là thị trấn Đông Thành và 10 xã: Bình Hòa Bắc, Bình Hòa Hưng, Bình Hòa Nam, Bình Thành, Mỹ Bình, Mỹ Quý Đông, Mỹ Quý Tây, Mỹ Thạnh Bắc, Mỹ Thạnh Đông, và Mỹ Thạnh Tây.

Huyện Mộc Hóa có huyện lỵ là thị trấn Mộc Hóa và 11 xã: Bình Hiệp, Bình Hòa Đông, Bình Hòa Tây, Bình Hòa Trung, Bình Phong Thạnh, Bình Thạnh, Tân Lập, Tân Thành, Thạnh Hưng, Thạnh Trị, và Tuyên Thạnh.

Huyện Tân Hưng có huyện lỵ là thị trấn Tân Hưng và 10 xã: Hưng Điền, Hưng Điền B, Hưng Hà, Hưng Thạnh, Thạnh Hưng, Vĩnh Châu A, Vĩnh Châu B, Vĩnh Đại, Vĩnh Lợi, và Vĩnh Thạnh.

Huyện Tân Thạnh có huyện lỵ là thị trấn Tân Thạnh và 12 xã: Bắc Hòa, Hậu Thạnh Đông, Hậu Thạnh Tây, Kiến Bình, Nhơn Hòa, Nhơn Hòa Lập, Nhơn Ninh, Tân Bình, Tân Hòa, Tân Lập, Tân Ninh, và Tân Thành.

Huyện Tân Trụ có huyện lỵ là thị trấn Tân Trụ và 10 xã: An Nhựt Tân, Bình Lãng, Bình Tịnh, Bình Trinh Đông, Đức Tân, Lạc Tấn, Mỹ Bình, Nhựt Ninh, Quê Mỹ Thạnh, và Tân Phước Tây.

Huyện Thạnh Hóa có huyện lỵ là thị trấn Thạnh Hóa và 10 xã: Tân Đông, Tân Hiệp, Tân Tây, Thạnh An, Thạnh Phú, Thạnh Phước, Thuận Bình, Thuận Nghĩa Hòa, Thủy Đông, và Thủy Tây.

Huyện Thủ Thừa có huyện lỵ là thị trấn Thủ Thừa và 9 xã: Bình Thạnh, Long Thạnh, Long Thuận, Mỹ An, Mỹ Lạc, Mỹ Phú, Mỹ Thạnh, Nhị Thành, và Tân Thành.

Huyện Vĩnh Hưng có huyện lỵ là thị trấn Vĩnh Hưng và 9 xã: Hưng Điền A, Khánh Hưng, Thái Bình Trung, Thái Trị, Tuyên Bình, Tuyên Bình Tây, Vĩnh Bình, Vĩnh Thuận, và Vĩnh Trị.

Di tích. Long An có gần hai mươi di tích tiền sử và gần một trăm di tích văn hóa Óc Eo ( ) với mười hai ngàn hiện vật ở di chỉ Bình Tả thuộc huyện Đức Hòa, và di chỉ khảo cổ Rạch Núi ở huyện Cần Giuộc. Long An có 186 di tích lịch sử văn hóa, trong đó đã có bảy di tích được xếp hạng cấp quốc gia như:
- Lăng Nguyễn Huỳnh Đức là một quần thể kiến trúc cổ nhất của tỉnh gồm đền thờ, mộ, nền nhà cũ của tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức (1748-1819).
- Chùa Tôn Thạnh cất năm 1808 ở xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, cổ nhất tỉnh, còn lưu bia kỷ niệm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tác giả truyện thơ Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
- Ngôi nhà trăm cột ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, cất năm 1901-1903 với nhiều chạm trổ theo kiểu cung đình xưa.
- Vàm Nhật Tảo đoạn giáp sông Vàm Cỏ Đông, thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, là nơi anh hùng Nguyễn Trung Trực (1839-1868) đã đốt chìm tàu Espérance của Pháp ngày 10-12-1861.
- Đồn Rạch Cốc nằm trên mũi đất hướng ra cửa biển Đông, giữa sông Vàm Cỏ và sông Cần Giuộc, thuộc xã Long Hựu Đông. Đồn này to nhất nhì Việt Nam, xây dựng năm 1903, dài 300m, ngang 100m, có năm tầng (ba tầng chìm, hai tầng nổi), tường dày 60-100cm, bên trên vẫn còn những khẩu pháo 105mm.

Đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài. Bốn tôn giáo có đông tín đồ tại Long An là Phật, Thiên Chúa, Tin Lành, và Cao Đài. Riêng với đạo Cao Đài, có thể nói Long An là đất lành. Trong những ngày đầu mở đạo, nhiều đàn cơ được lập ở Long An để thâu nhận tín đồ và dạy riêng các vị tiền khai về đạo pháp, kinh luật… như:
- Đàn Vĩnh Nguyên Tự ở xã Long An, quận Cần Giuộc. Đây là thánh sở của Minh Đường đã quy hiệp đạo Cao Đài (1926).
- Đàn Tân Kim ở xã Tân Kim, quận Cần Giuộc, do các tiền bối Ca Minh Chương và Phạm Văn Tươi phò loan. Đây là nhà Hội Đồng Quản Hạt Nguyễn Văn Lai (1876-1939).
- Đàn Hội Phước Tự do Yết Ma Nguyễn Văn Luật (1869-1948) trụ trì, ở xã Long Trạch, quận Cần Đước. Đây là nơi tiền bối Nguyễn Ngọc Tương nhập môn Cao Đài.
- Đàn Long Thành Tự ở chợ Rạch Kiến, làng Long Hòa, quận Cần Đước, do các tiền bối Phạm Tấn Đãi và Nguyễn Thiên Kim phò loan.
- Đàn Phước Linh Tự do Yết Ma Nguyễn Văn Xoài làm chủ, cũng tại làng Long Hòa, quận Cần Đước.
Năm 1909 tiền bối Ngô Văn Chiêu (1878-1932), người môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn đổi về tỉnh Tân An (nay là Long An) làm việc. Tiền bối mướn nhà ở bờ sông, gần chùa Quan Thánh. Sau này tiền bối mua một căn nhà lá ở Tân An, giá sáu mươi đồng, trên đất thuê, số 31 đường Lagrange, xã Bình Lập (nay ở số 27 đường Phan Đình Phùng, thị xã Tân An, tỉnh Long An). Lần hồi, tiền bối cho cất lại, lợp ngói. Năm 1920 khi lập đàn tại ngôi nhà này, tiền bối lần đầu tiên được nghe hồng danh Cao Đài Tiên Ông.
Phần lớn các vị tiền khai Đại Đạo đều ở tỉnh Long An (Chợ Lớn và Tân An cũ), đã ký tên trong Tờ Khai Tịch Đạo (ngày 23-8 Bính Dần) như:
- Tiền bối Ca Minh Chương (1850-1927), Bảo Đạo, làng Mỹ Lộc Tây, tổng Phước Điền Trung, quận cần Giuộc.
- Tiền bối Lại Văn Hành (1878-1939), hương cả, xã Long Phú, quận Bến Lức, tỉnh Chợ Lớn.
- Tiền bối Lê Văn Lịch (1890-1947), Ngọc Đầu Sư, làng Long An, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Lê Văn Trung (1876-1934), Quyền Giáo Tông Tây Ninh, ấp Phước Kế, xã Phước Lâm (hiện còn ngôi mộ song thân của tiền bối vừa được trùng tu), tổng Phước Điền Trung, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Ngô Văn Kim (1868-1940), Thượng Giáo Sư, xã Trường Bình, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Nguyễn Văn Chức (1873-1956), cai tổng, tỉnh Chợ Lớn.
- Tiền bối Nguyễn Văn Lai (1876-1939), Thượng Chánh Phối Sư Ban Chỉnh Đạo, xã Tân Kim, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Phạm Công Tắc (1890-1959), Hộ Pháp Hội Thánh Tây Ninh, quê Tây Ninh nhưng sanh tại làng Bình Lập, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An).
- Tiền bối Phạm Tấn Đãi (1901-1976), Khai Đạo Hội Thánh Tây Ninh, làng Mỹ Lệ, quận Cần Đước.
- Tiền bối Phạm Văn Tươi (1897-1976), Hiến Đạo Hội Thánh Tây Ninh, xã Qui Đức, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Phạm Văn Tỉ (1887-1949), giáo tập, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Thái Văn Thâu (1899-1981), Khai Thế Hội Thánh Tây Ninh, làng Qui Đức, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Trần Văn Thụ (1857-1927), Ngọc Chưởng Pháp, lúc cuối đời về ngụ ở làng Trường Bình, quận Cần Giuộc.
- Tiền bối Trương Hữu Đức (1890-1976), Hiến Pháp Hội Thánh Tây Ninh, làng Hiệp Hòa, quận Đức Hòa.
- Tiền bối Võ Văn Kỉnh, giáo tập, quận Cần Giuộc.

Sau ngày Khai Tịch Đạo (23-8 Bính Dần), nhóm phổ độ thứ nhì đã đi Chợ Lớn và Tân An trước nhứt vì hai tỉnh này nằm sát Sài Gòn, dân cư đông đúc. Tiền bối Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951) bấy giờ đang làm chủ quận Cần Giuộc (1924-1927) nên việc phổ độ nơi đây phát triển nhanh chóng và rộng khắp. Nhóm phổ độ thứ nhì gồm các vị tiền khai Lê Văn Hóa, Lê Văn Lịch, Nguyễn Dư Hoài, Nguyễn Ngọc Tương, Nguyễn Văn Ca (1875-1956), Trần Quang Minh, Võ Văn Lý, Yết Ma Nguyễn Văn Luật. Phò loan là hai tiền bối Nguyễn Trung Hậu (1892-1961) và Trương Hữu Đức.

Ghi chú
Phần lớn thông tin về tỉnh Long An (tr. 11-15) trong Tổng quan được tổng hợp từ một số tài liệu, trong đó chủ yếu là:

http://www.longan.gov.vn

http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_An

Bản đồ Tỉnh Long An

LONG AN


Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà
Chung hiệp rán vun nền đạo đức
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mồng 9 tháng giêng năm Bính Dần

Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Thánh Sở Cao Đài ngày một tốt hơn.


Hãy gửi góp ý của bạn tại đây