Thống Kê Newsletter
LƯỢT TRUY CẬP:
31614 lượt
TRỰC TUYẾN:
1 khách
SỐ THÁNH SỞ:
418 thánh sở

Tổng quan các địa phương

Tổng quan tỉnh Bến Tre

1. LỊCH SỬ

Dinh Hoằng Trấn thành lập năm 1803, đổi thành dinh Vĩnh Trấn (1804), rồi đổi thành trấn Vĩnh Thanh (1808). Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ trấn lập tỉnh, trấn Vĩnh Thanh chia thành hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Tỉnh Vĩnh Long bấy giờ gồm ba phủ Hoằng An (Bến Tre ngày nay), Định Viễn (Vĩnh Long ngày nay) và Lạc Hóa (Trà Vinh ngày nay). Năm 1837 đặt thêm phủ Hoằng Trị. Năm 1851 bỏ phủ Hoằng An nhập vào phủ Hoằng Trị.

Năm 1876, thời Pháp thuộc, Bến Tre là hạt tham biện (arrondissement administratif) thuộc khu vực hành chánh Vĩnh Long.

Nghị định ngày 20-12-1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi hạt tham biện thành tỉnh, do đó từ ngày 01-01-1900 hạt tham biện Bến Tre trở thành tỉnh Bến Tre (1.501km²), gồm bốn quận: Ba Tri, Mỏ Cày, Sóc Sãi, Thạnh Phú, với 21 tổng và 144 xã. Dân số là 223.405 người (1910); 286.000 người (1930); 346.500 người (1943); 339.000 người (1955).

Ngày 22-10-1956, tỉnh Bến Tre đổi tên thành Kiến Hòa và gồm chín quận: Ba Tri, Bình Đại, Đôn Nhơn, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Hàm Long, Hương Mỹ, Trúc Giang. Năm 1965 có 115 xã, 793 ấp. Năm 1970 có 119 xã. Tỉnh lỵ là Trúc Giang. Diện tích 2.085km². Dân số là 547.819 người (năm 1965); 582.900 người (năm 1970).

Sau năm 1975 Kiến Hòa trở lại thành tỉnh Bến Tre, quận đổi thành huyện.

2. ĐỊA LÝ

Với diện tích 2.322 km², dân số 1.369.358 người (năm 2007, đa số là người Kinh), Bến Tre có tỉnh lỵ là thị xã Bến Tre và bảy huyện (Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú). Bến Tre là tỉnh đồng bằng ở hạ lưu sông Cửu Long, đông giáp biển Đông (với bờ biển dài 60km), tây giáp Vĩnh Long, tây và tây nam giáp Trà Vinh, bắc giáp tỉnh Tiền Giang. Bốn bề sông nước bao bọc, Bến Tre có ba cù lao lớn: An Hóa, Bảo, và Minh nằm giữa bốn con sông Ba Lai (nay đã chặn làm đập), Cổ Chiên, Hàm Luông, và Mỹ Tho. Bốn cửa sông chánh là Ba Lai, Đại, Cổ Chiên, và Hàm Luông. Ba cây cầu Cần Thơ, Hàm Luông, Rạch Miễu giúp cho Bến Tre không còn bị cô lập giữa các cù lao.

Cầu Rạch Miễu là cầu dây văng nối liền thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) và Bến Tre, là công trình Việt Nam thiết kế và thi công với sự yểm trợ kỹ thuật của hãng VSL (Thụy Sĩ) trong việc kéo dây văng. Cầu Rạch Miễu là cửa ngõ mở đầu quốc lộ 60 tại địa bàn tỉnh Bến Tre, khởi công ngày 30-4-2002, khánh thành ngày 19-01-2009. Cầu dài toàn tuyến 11.130 mét tính toàn tuyến phía bắc từ phường 6 thành phố Mỹ Tho, phía nam đến ấp 6A xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trong 11.130 mét đó có phần đường dẫn và cầu dài 8.331 mét. Cầu chính dài 2.878 mét, trong đó cầu dây văng dài 1.710 mét, mặt cầu rộng 15 mét, khoảng thông thuyền rộng 70 mét, độ tĩnh không thông thuyền 37,50 mét, bắc ngang sông Tiền từ thành phố Mỹ Tho qua cù lao Thới Sơn (Tiền Giang), cầu bê tông dài 920 mét nối liền từ cù lao Thới Sơn qua cồn Tân Vinh (Bến Tre), phần còn lại từ cồn Tân Vinh qua An Khánh (Bến Tre). Có hai trụ tháp cao 106 mét, mỗi trụ đặt trên 20 cọc khoan nhồi đường kính 2 mét, khoan sâu xuống đất 90 mét. Tổng cộng 112 bộ cáp được kéo căng, chia ra mỗi trụ kéo 56 bộ cáp, bộ cáp dài nhất 162 mét, ngắn nhất 43 mét. Tổng trị giá đầu tư ban đầu là 988 tỷ, điều chỉnh tăng lên 1.300 tỷ đồng, với 58% là vốn ngân sách và 42% là vốn BOT.(1 )

3. HÀNH CHÁNH

Bến Tre có thị xã Bến Tre và bảy huyện: Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày, và Thạnh Phú.
Thị xã Bến Tre có 9 phường (nội ô), mang số từ 1 đến 8, phường Phú Khương, và 6 xã (ngoại ô): Bình Phú, Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Hưng, Phú Nhuận, và Sơn Đông.

Huyện Ba Tri có thị trấn Ba Tri và 23 xã: An Bình Tây, An Đức, An Hiệp, An Hòa Tây, An Ngãi Tây, An Ngãi Trung, An Phú Trung, An Thủy, Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Mỹ Chánh, Mỹ Hòa, Mỹ Nhơn, Mỹ Thạnh, Phú Lễ, Phú Ngãi, Phước Tuy, Tân Hưng, Tân Mỹ, Tân Thủy, Tân Xuân, Vĩnh An, và Vĩnh Hòa.

Huyện Bình Đại có thị trấn Bình Đại và 19 xã: Bình Thắng, Bình Thới, Châu Hưng, Đại Hòa Lộc, Định Trung, Long Định, Long Hòa, Lộc Thuận, Phú Long, Phú Thuận, Phú Vang, Tam Hiệp, Thạnh Phước, Thạnh Trị, Thới Lai, Thới Thuận, Thừa Đức, Vang Quới Đông, và Vang Quới Tây.

Huyện Châu Thành có thị trấn Châu Thành và 21 xã: An Hiệp, An Hóa, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Hữu Định, Phú An Hòa, Phú Đức, Phú Túc, Phước Thạnh, Quới Sơn, Quới Thành, Sơn Hòa, Tam Phước, Tân Phú, Tân Thạch, Thành Triệu, Tiên Long, Tiên Thủy, và Tường Đa.

Huyện Chợ Lách gồm thị trấn Chợ Lách và 10 xã: Hòa Nghĩa, Hưng Khánh Trung, Long Thới, Phú Phụng, Phú Sơn, Sơn Định, Tân Thiềng, Vĩnh Bình, Vĩnh Hòa, và Vĩnh Thành.

Huyện Giồng Trôm có thị trấn Giồng Trôm và 21 xã: Bình Hòa, Bình Thành, Châu Bình, Châu Hòa, Hưng Lễ, Hưng Nhượng, Hưng Phong, Long Mỹ, Lương Hòa, Lương Phú, Lương Quới, Mỹ Thạnh, Phong Mỹ, Phong Nẫm, Phước Long, Sơn Phú, Tân Hào, Tân Lợi Thạnh, Tân Thanh, Thạnh Phú Đông, và Thuận Điền.

Huyện Mỏ Cày có thị trấn Mỏ Cày và 26 xã: An Định, An Thạnh, An Thới, Bình Khánh Đông, Bình Khánh Tây, Cẩm Sơn, Đa Phước Hội, Định Thủy, Hòa Lộc, Hương Mỹ, Khánh Thạnh Tân, Minh Đức, Ngãi Đăng, Nhuận Phú Tân, Phước Hiệp, Phước Mỹ Trung, Tân Bình, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Tân Thạnh Tây, Tân Trung, Thành An, Thạnh Ngãi, Thanh Tân, Thành Thới A, và Thành Thới B.

Huyện Thạnh Phú có thị trấn Thạnh Phú và 16 xã: An Điền, An Nhơn, An Qui, An Thạnh, An Thuận, Bình Thạnh, Đại Điền, Giao Thạnh, Hòa Lợi, Mỹ Hưng, Phú Khánh, Quới Điền, Tân Phong, Thạnh Hải, Thạnh Phong, và Thới Thạnh.

4. NÔNG NGHIỆP

Là vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long, đất Bến Tre được phù sa sông Cửu Long bồi đắp. Đất bồi thích hợp trồng cói. Ngoài lúa, hoa màu phụ là bắp, khoai lang, và các loại rau.

Cây công nghiệp có thuốc lá (trồng tập trung ở Mỏ Cày), mía (tại các vùng đất phù sa ven sông rạch; nổi tiếng là mía Giồng Trôm và Mỏ Cày), ca cao, dừa. Cây dừa Bến Tre (trồng trên 40.000 ha) cho nhiều trái có lượng dầu cao. Các sản phẩm phụ từ cây dừa là than dừa, thảm dừa, dây dừa (làm từ vỏ dừa).

Cây ăn trái có bòn bon, bưởi da xanh, cam, chôm chôm, chuối, khóm, mãng cầu, măng cụt, quít, sầu riêng, táo hồng, vú sữa, xoài cát, v.v… trồng nhiều ở huyện Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày.

5. LÀNG NGHỀ

Ngoài kẹo dừa, Bến Tre có các đặc sản khác như bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc. Làng nghề Cái Mơn (huyện Chợ Lách) cung ứng cây giống ăn quả và cây cảnh. Cái Mơn có nghề rang trầu và làm cau tầm vung (cau để chín khô trên cây, không xắt ra).

6. THỦY SẢN

Những con sông lớn và vùng biển Đông thuộc Bến Tre có nhiều cá bạc má, cá cơm, cá dứa, cá mối, cá thiều, cá vược, cua biển, nghêu, và tôm he. Rừng nước mặn chạy dọc theo bờ biển cho thêm bần, chà là, dừa nước. Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú có ruộng muối.

7. DU LỊCH SINH THÁI

Bến Tre có điều kiện thuận tiện để phát triển du lịch sinh thái mang nét miệt vườn. Điểm du lịch khá có tiếng là:

Bãi Ngao (huyện Ba Tri).

Cồn Ốc (cồn Hưng Phong, xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm) có nhiều vườn dừa và cây ăn quả.

Cồn Phụng (xã Tân Thạch, huyện Châu Thành) nằm giữa sông Tiền. Ngoài kiến trúc tôn giáo lạ mắt của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam (1909-1990), trên cồn có làng nghề với các sản phẩm từ dừa và mật ong.

Cồn Tiên (bãi cát đẹp ở xã Tiên Long, huyện Châu Thành).

Sân chim Vàm Hồ (thuộc hai xã Mỹ Hòa và Tân Xuân, huyện Ba Tri) có gần 500.000 con cò, vạc và các loài chim, thú hoang dã khác. Có rừng chà là và thảm thực vật phong phú gồm các loại cây bụp tra, chà là, đậu ván, dừa nước, đước đôi, mãng cầu xiêm, ô rô, ổi, rau muống biển, so đũa, v.v…

Vườn cây ăn trái Cái Mơn (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách). Cái Mơn là quê hương nhà bác học Trương Vĩnh Ký (1837-1898).

8. DI TÍCH

Bửu tháp Nhị Thiên Giáo Chủ Võ Văn Phẩm (1888-1940) ở xã An Hiệp, huyện Châu Thành.

Là người xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tiền bối lên Tòa Thánh Tây Ninh (Tân Mùi, 1931), được Ơn Trên truyền tâm pháp. Về sau tiền bối truyền tâm pháp cho các đệ tử để rồi Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh – Tòa Thánh Long Châu được thành lập ở tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang). Năm Quý Dậu (1933), tiền bối cho cất ở xã An Hiệp ba dãy nhà đặt tên Ngọc Thánh Hư − Trung Thiên Tự và mướn thêm các dãy phố chợ để làm nhà tịnh cho môn đệ, nay không còn.

Chùa Hội Tôn do thiền sư Long Thiền cất (thế kỷ 18) tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành; trùng tu các năm 1805, 1884, 1947 và 1992.

Chùa Tuyên Linh cất năm 1861 tại ấp Tân Quới Đông B, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày; tu sửa và mở rộng các năm 1924, 1941, 1983.

Chùa Viên Minh cất năm 1951-1959, nay tại số 156 đường Nguyễn Đình Chiểu, thị xã Bến Tre.

Lăng mộ, đền thờ ba vị danh nhân tại huyện Ba Tri: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888); Phan Thanh Giản (1796-1867); và Võ Trường Toản (?-1792).

Tổ đình Vạn Quốc Tự tại xã Phú Hưng, thị xã Bến Tre.

Vạn Quốc Tự thờ Phật, do sư bà Diệu Lộc Võ Thị Ngọc Châu cất. Sau khi sư bà quy thiên, ni trưởng Diệu Minh Võ Phụng Kiều hay Võ Duy Nhứt (1901-1988) kế tục đạo nghiệp. Năm 1934 ni trưởng Diệu Minh nhập môn Cao Đài, thờ Thiên Nhãn và Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn. Năm 1948, ni trưởng Diệu Minh lên Sài Gòn mua đất. Năm 1950 xây xong Vạn Quốc Tự Đô Thành (nay tại số 378/5 Điện Biên Phủ, quận 3) để nuôi cô nhi nữ. Chánh điện thờ Thiên Nhãn và phía đối diện thờ Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn. Năm 1968 Đức Mẹ dạy chuyển văn phòng Nữ Chung Hòa về đặt tại Vạn Quốc Tự Đô Thành, nơi đây cũng gọi Chơn Lý Đàn. Về phần cô nhi nam, ni trưởng Diệu Minh tổ chức nuôi ở Vạn Quốc Tự Hòa Hưng, số 292/21-23 Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng Tám). Vạn Quốc Tự ở Bến Tre trở thành tổ đình.

Sau 1975 Vạn Quốc Tự ở Bến Tre và Vạn Quốc Tự ở Hòa Hưng đều thuộc về Giáo Hội Phật Giáo.

9. LỄ HỘI LỚN

Đình Phú Lễ (ấp Phú Khương xã Phú Lễ, huyện Ba Tri) thờ Thành Hoàng bổn cảnh, mỗi năm tổ chức hai lễ hội: lễ kỳ yên (ngày 18 và 19 tháng 3 âm lịch) cầu quốc thới dân an; lễ cầu bông (ngày 9 và 10 tháng 11 âm lịch) xin cho mùa màng tươi tốt.

Lễ hội nghinh Ông (ngày 16 tháng 6 âm lịch) tại các làng chài ở hai huyện Ba Tri, Bình Đại.(2 )

Đạo Cao Đài ở Bến Tre

Tòa Thánh Bến Tre

Sau ngày Khai Tịch Đạo 23 tháng 8 Bính Dần (29-9-1926), nhóm truyền đạo thứ nhì được phân công về Bến Tre gồm các tiền bối Lê Văn Hóa, Lê Văn Lịch, Nguyễn Dư Hoài, Nguyễn Ngọc Tương, Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Văn Luật (yết ma), Trần Quang Minh, Võ Văn Lý. Phò loan là hai tiền bối Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Đức.

Bến Tre là nơi đặt Tòa Thánh Bến Tre của Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo và Tòa Thánh Châu Minh của Hội Thánh Tiên Thiên.

HỘI THÁNH BAN CHỈNH ĐẠO

Tòa Thánh Bến Tre

Đại hội thành lập Ban Chỉnh Đạo được tổ chức ngày 14-10 Giáp Tuất (20-11-1934) tại thánh thất An Hội (tỉnh Bến Tre) do tiền bối Quyền Thượng Đầu Sư Nguyễn Ngọc Tương và tiền bối Quyền Ngọc Đầu Sư Lê Bá Trang cùng các tiền bối Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu, v.v… Tham dự có 85 họ đạo thuộc 18 tỉnh. Đại hội quy tụ khoảng 1.300 vị.

Ban Chỉnh Đạo vừa lập xong buổi sáng, chiều cùng ngày đang họp tiếp thì nhận được điện tín của Tòa Thánh Tây Ninh báo tin tiền bối Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung quy thiên tại Giáo Tông Đường, lúc 3 giờ chiều ngày 13-10 Giáp Tuất (19-11-1934). Tiền bối Thượng Đầu Sư Nguyễn Ngọc Tương xin đại hội năm phút mặc niệm vị Anh Cả đã dày công từ buổi khai Đạo, và khuyên các họ đạo hãy lập đàn cầu nguyện cũng như để tang Anh Cả. Sau đó, hai tiền bối Thượng Đầu Sư Nguyễn Ngọc Tương và Ngọc Đầu Sư Lê Bá Trang tức tốc về Tòa Thánh Tây Ninh để dự lễ tang vị Anh Cả đáng kính.(3 )

Ngày 18-11 Giáp Tuất (24-12-1934), nhóm đại hội thành lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, bầu tiền bối Quyền Ngọc Đầu Sư Lê Bá Trang làm Thượng Chưởng Pháp, cử ba vị Quyền Chánh Phối Sư là Nguyễn Văn Kinh (phái Ngọc), Nguyễn Văn Lai (phái Thượng), và Nguyễn Quang Minh (phái Thái).

Đại hội vạn linh từ 8 đến 11-01 Ất Hợi (11 đến 14-2-1935) có 88 họ đạo trong 20 tỉnh đến dự và bỏ thăm lập Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, bầu tiền bối Nguyễn Ngọc Tương lên ngôi Giáo Tông. Lễ đăng điện Giáo Tông tổ chức ngày 07-4 Ất Hợi (09-5-1935). Hội Thánh nhóm lần đầu tiên ngày 08-01 Bính Tý (31-01-1936), có 96 thánh thất quy về.

Sau khi tổ chức xong Hội Thánh, Ban Cửu Viện, đầu tỉnh đạo, đầu họ đạo các thánh thất, ban cai quản, ban trị sự, ban hành thiện, các dự án thành lập nhà tu trung thừa, nhà tu thượng thừa, Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương nhập đại tịnh 120 ngày tại Hiệp Thiên Đài từ 07-7 Ất Hợi (05-8-1935), quyền hành chánh đạo giao cho Thượng Chưởng Pháp Lê Bá Trang. Sau này tiền bối Nguyễn Ngọc Tương còn bảy lần nhập đại tịnh (các năm 1936, 1937, 1939, 1940, 1941).

Từ ngày 07 đến 15-01 Mậu Dần (06 đến 14-02-1938) tổ chức lễ Thành Đạo. Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo đổi tên là Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nhưng trên bảng hiệu các thánh thất hoặc trên giấy tờ thường ghi là “Hội Thánh dưới quyền ủng hộ của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương”.

Năm Kỷ Mão (1939) xây cất tạm xá trên khoảnh đất trước nhà tu thượng thừa nam, và cất nhà tịnh cho các vị thượng thừa nam sau tạm xá. Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương dời về ở nơi đây, đặt tên khu đất này là vườn Trước Hoa Kỳ Thọ.

Ngày 08-01 Canh Thìn (15-02-1940), khánh thành tịnh xá cho bực thượng thừa nam hiến thân làm công quả và tu tịnh. Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương khai tịnh lần đầu, đích thân truyền pháp.

Năm Tân Tỵ (1941) nhà tu trung thừa nữ (nữ Chánh Phối Sư Hương An quản lý) được dời về khoảnh đất rộng hơn gần nhà tu thượng thừa nữ và Diêu Trì Bửu Điện.

Năm Nhâm Ngọ (1942) nhiều ban Minh Đạo đi thăm các thánh thất để chấn chỉnh việc tu hành và củng cố đức tin bổn đạo. Ngày 15-8 Nhâm Ngọ (24-9-1942) khánh thành nhà tu thượng thừa nữ.

Từ ngày 21 rạng 22-02 Nhâm Tuất (giờ tý ngày 07 rạng 08-4-1942) đến giờ tý 14 rạng 15-5 Tân Mão (17 rạng 18-6-1951), trong suốt 9 năm 81 ngày, Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương nhập đại tịnh.

Ngày 19-5 Tân Mão (22-6-1951) ba bác sĩ khám nghiệm di thể Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương, kết luận tiền bối quy thiên hai ngày trước, nhưng nhục thể chưa hoại. Lễ tang từ ngày 24-5 Tân Mão (27-6-1951) có trên 10.000 người tham dự. Bửu tháp tiền bối xây ở sân trước, ngay mặt tiền Tòa Thánh.

Ngày 07-8-1997, Đại Hội Đại Biểu Nhơn Sanh khai mạc tại Tòa Thánh Bến Tre (có 229 đại biểu từ 249 thánh thất ở 26 tỉnh, thành về dự).
Ngày 08-8-1997, Ban Tôn Giáo của Chánh Phủ ký quyết định số 26/QĐ/TGCP công nhận tư cách pháp nhân của Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo.

Tòa Thánh Bến Tre (đường Trương Định, phường 6, thị xã Bến Tre) nguyên là thánh thất An Hội xây cất lại năm 1935 trên thửa đất 7,40ha do Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương hiến. Tòa Thánh không có quả càn khôn nơi Bát Quái Đài. Ngoài Thiên Nhãn, Tòa Thánh thờ cốt tượng giống như Thiên Bàn tại Chùa Gò Kén trong đại lễ Khai Minh Đại Đạo Bính Dần (1926).

Tòa Thánh được sửa chữa lớn (2007). Phía sau là Thiên Phong Đường, nơi làm việc của các chức sắc cao cấp. Chung quanh có Báo Ân Từ, Tàng Kinh Viện, Văn Minh Viện, trai đường. Nhà tu thượng thừa nam (cất năm Mậu Dần, 1938). Tại vườn Trước Hoa Kỳ Thọ, cạnh miếu thờ bà Chúa Xứ,(4 ) có nhà tịnh. Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương tịnh luyện ở Thiên Lý Mật Truyền. Tịnh xá có 36 phòng tịnh nam cho những chức sắc tân phong tịnh theo định kỳ 9, 18, 27, 36, 72, 108 ngày. Nhà tu trung thừa nam, nhà tu trung thừa nữ xây năm Tân Tỵ (1941). Thảo Xá Hiền Cung gồm Diêu Trì Bửu Điện thờ Đức Diêu Trì Kim Mẫu, nhà tu thượng thừa nữ khánh thành năm 1942, và 12 phòng tịnh nữ.
Nét nổi bật của Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo là:

- Lập nhà tu trung thừa ở địa phương để đào luyện nhơn tài cho Hội Thánh.
- Lập nhà tu thượng thừa dành cho các bậc chơn tu giải thoát vào học phép tịnh luyện. Chức sắc phải về nhà tu thượng thừa ở Tòa Thánh học tịnh (giáo hữu 36 ngày, giáo sư 72 ngày, phối sư 108 ngày). Hàng tháng có bốn ngày tịnh hội cho chức sắc thượng thừa. Nam phải để râu, để tóc.
- Vì không dùng cơ bút nên mỗi việc từ hành lễ, giáo lý, các quy giới, nội luật thánh thất, lập họ đạo, công cử chức sắc, v.v… Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương đều viết văn bản.
- Có riêng hai phép bí tích: phép đại xá, phép giải khổ.
Sau lễ Thành Đạo, suốt năm Mậu Dần (1938), Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương đi thăm các thánh thất và làm phép đại xá và giải khổ cho từng nơi. Về sau, ba năm một lần, Hội Thánh lập Cửu Trùng Thiên ở sân trước Tòa Thánh, thỉnh Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương đăng đài làm bí tích.
- Báo chí. Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo có công ấn hành tam cá nguyệt san Hành đạo. Tòa soạn đặt tại thánh thất An Hội, tỉnh Kiến Hòa (tỉnh Bến Tre ngày nay). Báo in typo tại nhà in Hòa Chánh, 16-18 Cống Quỳnh, Sài Gòn. Khổ báo 16x24cm. Bìa in một màu. Số 1 ra mắt tháng 3-1962, dày 36 trang ruột. Đến tháng 01-1965 ra số 12 (48 trang ruột). Tháng 9-1966 ra số thu Bính Ngọ (64 trang ruột), v.v… Nhiều sử liệu Cao Đài giá trị có thể tìm thấy trong các số báo này.(5 )

HỘI THÁNH TIÊN THIÊN

Tòa Thánh Thiên Thai vô vi và Tòa Thánh Châu Minh

Hội Thánh Tiên Thiên hình thành nhân sự, cất Tòa Thánh vào năm 1933, nhưng ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20 đã được Ơn Trên chuẩn bị mọi điều kiện để Hội Thánh ra đời với những đàn cầu tiên (nhà đàn) đặt tại nhà riêng các vị thiện căn. Hầu hết các đàn này đều ở nơi hẻo lánh.

Trong số những trụ tướng ban sơ góp phần quan trọng vào quá trình hình thành Hội Thánh Tiên Thiên, nổi bật nhất là Lư Bồng Đạo Đức tại ấp Láng Biển, xã Mỹ Phước Tây, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Đây là nhà riêng bà Nguyễn Thị Tứ (1847-1932), tu theo Minh Sư. Hai đồng tử tại đàn này là Thiên Ân và Minh Đức, đều là tu sĩ Minh Sư. Về sau Ơn Trên ban danh hiệu cho nơi này là Thiên Thai Tịnh.( 6)

Thất thập nhị tịnh. Tại Lư Bồng Đạo Đức, ngày 08-01 Đinh Mão (09-021927), Đức Chí Tôn dạy lập thành 72 tịnh trường làm nền móng cho Tiên Thiên. Sau đó, các nhà đàn đã có từ buổi ban sơ lần lần trở thành thánh tịnh, hầu hết cất bằng cây ván, tranh, lá.

Thất Thánh. Ngày 09-01 Mậu Thìn (21-01-1928) tại Thiên Thai Tịnh (nguyên là Lư Bồng Đạo Đức), Ơn Trên phong bảy vị tiền bối vào hàng Thất Thánh, gồm có: Phan Văn Tòng (1881-1945), Nguyễn Hữu Chính (1890-1944), Nguyễn Thế Hiển (1886-1943), Lê Kim Tỵ (1893-1948), Trần Lợi (1879-1946), Nguyễn Bửu Tài (1882-1958), và Nguyễn Tấn Hoài (1881-1949).(7)

Thất Hiền. Sau khi lập Thất Thánh, Ơn Trên phong thêm bảy vị tiền bối vào hàng Thất Hiền, gồm có: Lê Thành Thân, Nguyễn Phú Thứ, Lâm Quang Tỷ, Đoàn Văn Chiêu, Phan Lương Hiền, Trương Như Mậu, và Phan Bá Phước.(8 )

Thánh tịnh Châu Minh. Năm Tân Mùi (1931), tạo tác thánh tịnh Châu Minh. Bấy giờ kinh Tứ Hải chưa chảy thông ra rạch Tre Bông như ngày nay, nước kinh nhiều phèn vàng, mặn đắng, không dùng được. Trong hai năm tạo tác, phải gánh nước từ sông Tiên Thủy hay rạch Tre Bông, xa khoảng cây số. Thánh tịnh Châu Minh làm xong ba đài (Giáp Tuất, 1934), có lịnh thiết lập ba ngày Đại Hội Phục Nguyên. Bấy giờ khúc kinh Tứ Hải từ nhà nữ tu đến gốc mít (sau Tòa Cửu Viện) tự nhiên đầy nước trong và ngọt. Xong Đại Hội có một đám mưa to, khúc kinh ấy trở lại mặn đắng như trước.

Tòa Thánh Thiên Thai vô vi ở xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nguyên là Thiên Thai Tịnh), được hoàn thành năm Giáp Tuất (1934), có đủ ba đài, là Tòa Thánh đầu tiên của Hội Thánh Tiên Thiên.

Tòa Thánh Thiên Thai thờ Thiên Nhãn trên quả càn khôn. Bên dưới Tam Giáo Đạo Tổ và Tam Trấn Oai Nghiêm là bảy cái ngai và chân dung bốn vị Giáo Tông: Ngô Minh Chiêu, Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Tương, và Nguyễn Bửu Tài. Sau năm Ất Mão (1975) thờ thêm Giáo Tông Phan Văn Tòng.

Tòa Thánh Châu Minh. Năm Đinh Mùi (1937), Hội Thánh Tiên Thiên chọn thánh tịnh Châu Minh (xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành) làm Tòa Thánh Châu Minh, rồi mua thêm đất, dần dần mở mang rộng lớn hơn. Như thế Tòa Thánh Châu Minh đã thay thế Tòa Thánh Thiên Thai, và Tòa Thánh Thiên Thai được gọi là Tòa Thánh Thiên Thai vô vi.

Tòa Thánh Châu Minh lạc thành năm Bính Thân (1956), có khuôn viên rộng rãi, nhiều cây cao, tọa lạc ở mặt tiền đường. Trong nội ô có Diêu Trì Bửu Điện (lạc thành năm Ất Mùi, 1955), Tòa Nội Chánh, Báo Ân Từ, Đầu Sư Đường, Định Nguyên Đường, nhà dưỡng lão. Bửu tháp của Giáo Tông Nguyễn Bửu Tài xây phía sau Bát Quái Đài.

Chức sắc thiên phong của Hội Thánh Tiên Thiên. Ngày 03-9 Mậu Dần (25-10-1938), tại thánh tịnh An Long Hóa Tự (nay ở ấp cù lao Tiên Lợi, xã Tiên Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) Đức Chí Tôn ban phong Thất Thánh vào hàng chức sắc lãnh đạo Hội Thánh Tiên Thiên, theo thứ tự như sau:

Thái Chưởng Pháp Phan Văn Tòng; Thượng Chưởng Pháp Lê Kim Tỵ; Ngọc Chưởng Pháp Nguyễn Thế Hiển; Thượng Đầu Sư Nguyễn Bửu Tài; Thượng Đầu Sư Nguyễn Tấn Hoài; Thái Đầu Sư Trần Lợi; và Ngọc Đầu Sư Phan Bá Phước (1877-1942).(9 )

Ngày 29-7-1995 Ban Tôn Giáo của Chánh Phủ ra Quyết định số 51/QĐ/TGCP công nhận tư cách pháp nhân của Hội Thánh Tiên thiên.
Theo báo cáo của Hội Thánh Tiên Thiên ngày 11-6-2001, Hội Thánh Tiên Thiên có tổng cộng 128 thánh tịnh (hiện chỉ còn một số rất ít chưa hoàn nguyên), trên phạm vi 15 tỉnh, thành phố phía Nam và tập trung nhiều ở các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Vĩnh Long, v.v…

Hai nét son nổi bật của Hội Thánh Tiên Thiên về văn hóa:
Kinh sách. Trước 1975, Hội Thánh Tiên Thiên đã in rất nhiều quyển kinh quý báu dạy về pháp môn vô vi tịnh luyện.
Báo chí. Hội Thánh Tiên Thiên đã có công ấn hành nguyệt san Tiên Thiên tuyên bố, xác định đây là “Cơ quan quy nguyên và bảo tồn Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Quản lý và phụ trách tin tức do tiền bối Lê Kim Tỵ. Quản lý tài chánh do tiền bối Lâm Quang Tỷ. Tòa soạn đặt tại thánh tịnh Đại Thanh, làng Hanh Thông, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định; về sau chuyển về xã Bình Hòa, Gia Định. In typo tại nhà in Thanh Tân, Đa Kao; nhà in Bảo Tồn, số 175 đại lộ De la Somme (nay là Hàm Nghi), Sài Gòn; nhà in S.A.T.I., số 92 Pellerin (nay là Pasteur), Sài Gòn. Khổ báo thường là 22,5x33cm; 24x32cm. Mỗi số dày 10-12 trang. Số 1 ra mắt ngày 01-8-1938. Báo đình bản với số 19, tháng 5-1940. Giá một năm báo là 2$; giá bán cho tịnh thất là 6$. Nhiều sử liệu Cao Đài giá trị có thể tìm thấy trong các số báo này.( 10)

Cũng như tam cá nguyệt san Hành đạo của Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo xuất bản trong thập niên 1960, nguyệt san Tiên Thiên tuyên bố của Hội Thánh Tiên Thiên ra đời trong những năm 1938-1940 thật sự đã đóng góp rất ý nghĩa về mặt văn hóa Cao Đài nói chung, báo chí Cao Đài nói riêng.

Bản đồ

Chú thích:

(1) BOT là viết tắt của Built-Operation-Transfer (Xây dựng − Vận hành − Chuyển giao). Chánh phủ kêu gọi các công ty bỏ vốn đầu tư vào việc xây dựng (Built) thông qua đấu thầu, sau đó công ty khai thác vận hành một thời gian (Operation) có thu phí cầu đường để hoàn vốn đầu tư xây dựng, và cuối cùng là chuyển giao (Transfer) lại cho chánh quyền địa phương.

(2) Phần lớn thông tin trên đây về tỉnh Bến Tre (tr. 11-17) được tổng hợp từ một số tài liệu, trong đó chủ yếu là: http://www.bentre.gov.vn; và http://vi.wikipedia.org/wiki/… mục từ “Bến Tre”

(3) Tiểu sử Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951). Tòa Thánh An Hội 1958, tr. 42.

(4) Miếu thờ bà Chúa Xứ đầu tiên ở sát cạnh vườn Trước Hoa Kỳ Thọ. Những năm 1938-1941, Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương tịnh ở Hiệp Thiên Đài. Năm 1942, tiền bối dời về tịnh xá tu luyện. Ngày 15-01 Bính Tuất (16-02-1946) bà Chúa Xứ đạp đồng bảo ông Nguyễn Văn Chỉ, Hội Trưởng Hội Miếu Bà Chúa Xứ, phải dời miễu ra khỏi vuông đất tịnh xá 85m vì đã có hai lần Hội Thánh thỉnh Giáo Tông về Tòa Thánh, đi qua trước miếu nên bà và thuộc hạ phải đứng lâu nghinh tiếp. Khi miếu mới xây dựng vừa xong (1946), bà đạp đồng lần nữa, bảo hãy xây mặt miếu thờ vào trong, xây lưng ra đường lộ để mỗi lần thỉnh Giáo Tông về Tòa Thánh bà được yên tĩnh.

(5) Huệ Khải, Lược khảo báo chí Cao Đài. (Sắp xuất bản.)

(6) Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo (CQPTGL), Lịch sử đạo Cao Đài, quyển II. Hà Nội: Nxb Tôn Giáo 2008, tr. 506, 510.

(7) CQPTGL, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển II, tr. 520-522.

(8) CQPTGL, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển II, tr. 526.

(9) CQPTGL, Lịch sử đạo Cao Đài, quyển II, tr. 533-535. (Như vậy suy ra tiền bối Lê Kim Tỵ đã thay thế vị trí thứ hai của tiền bối Nguyễn Hữu Chính trong Thất Thánh, và tiền bối Phan Bá Phước được ban ơn để bổ khuyết cho đủ bảy vị bởi vì thiếu tiền bối Nguyễn Hữu Chính. Theo thánh giáo trích in trong quyển sử dẫn trên thì có đến hai vị Thượng Đầu Sư là Nguyễn Bửu Tài và Nguyễn Tấn Hoài.)

(10) Huệ Khải, Lược khảo báo chí Cao Đài. (Sắp xuất bản.)


Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa
Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà
Chung hiệp rán vun nền đạo đức
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mồng 9 tháng giêng năm Bính Dần

Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Thánh Sở Cao Đài ngày một tốt hơn.


Hãy gửi góp ý của bạn tại đây